Lăng Dục Đức
Khái niệm khu lăng Dục Ðức thường dùng hiện nay là để chỉ toàn bộ quần thể kiến trúc nằm trong một khu vực rộng gần 6 ha, bao gồm lăng vua Dục Ðức, hoàng hậu và 42 tẩm mộ ông hoàng bà chúa cùng 121 ngôi mộ đất của những người thuộc Ðệ Tứ Chánh phái Nguyễn Phước tộc (hệ phái của vua Dục Ðức).

An Lăng nằm ở khu vực trung tâm, diện
tích khoảng 1ha. Lăng gồm 2 khu vực: khu lăng mộ và khu tẩm thờ đặt song
song với nhau. Cả hai khu đều có tường thành bao bọc. Lăng quay mặt về
phía tây bắc, lấy đồi Phước Quả làm tiền án, núi Tam Thai sau lưng làm
hậu chẩm và dòng khe chảy vòng qua trước mặt làm minh đường tụ thủy.

Sau khi vua Tự Đức (1847 - 1883) qua
đời, ngai vàng triều Nguyễn đã được 3 đời vua là Dục Đức (1883), Hiệp
Hòa (1883) và Kiến Phúc (1883 - 1884) thừa kế liên tục chỉ trong vòng 4
tháng, sử gọi là “Tứ nguyệt tam vương”, rồi tiếp tục được chuyển cho 4
đời vua nữa trong vòng thời gian ngắn là Hàm Nghi (1884 - 1885), Đồng
Khánh (1885 - 1889), Thành Thái (1889 - 1907) và Duy Tân (1907 - 1916).

Vua Dục Đức tên thật là Nguyễn Phúc Ưng
Ái, sinh năm 1852, khi lên 2 tuổi, được vua Tự Đức chọn làm con nuôi và
làm Dục Đức Đường trong kinh thành cho ở. Năm 17 tuổi ông được đổi tên
thành Ưng Chân. Khi vua Tự Đức qua đời, vị hoàng trưởng tử 32 tuổi lên
nối ngôi, nhưng chỉ sau 3 ngày thì bị phế (23-7-1883) và bị quản thúc
tại Thái Y Viện, cuối cùng chết đói ở nhà ngục Thừa Thiên sau 7 ngày
không cho ăn uống (6-10-1883); để lại 8 bà vợ, 11 người con trai và 8
người con gái. Mộ chôn tạm tại khe cồn Phước Quả, gần chùa Tường Quang.
Mấy hôm sau triều đình mới cho người vợ chính là bà Từ Minh được phép
lên thăm mộ và làm lễ chịu tang ở chùa Tường Quang.

Con trai của vua Dục Đức là Nguyễn Phúc
Bửu Lân được đưa lên ngôi vua vào năm 1889, với niên hiệu Thành Thái.
Sau khi lên ngôi vua, Thành Thái liền cho xây lăng mộ của vua cha đàng
hoàng và đặt tên là An Lăng. Nơi thờ thì có chùa Tường Quang cách 200
mét. Năm 1891, triều đình vua Thành Thái cho xây dựng một ngôi miếu ở
phường Thuận Cát, gần bên phải Hoàng thành để thờ vua Dục Đức, đặt tên
là Tân Miếu (Năm 1897, đổi tên là Cung Tôn Miếu). Năm 1892, bà Từ Minh
Hoàng Thái Hậu - mẹ vua Thành Thái xuất tiền đúc tượng Phật và mở rộng
nhà tăng của ngôi chùa Tường Quang, năm sau vua Thành Thái cho đổi tên
thành chùa Kim Quang và ban cho chùa tấm hoành phi đề 5 chữ “Sắc Tứ Kim
Quang Tự”.

Đến tháng 7 năm Thành Thái thứ 11
(8-1899), nhà vua cho xây dựng điện Long Ân gần khu vực lăng mộ vua Dục
Đức để thờ cha. Trong khuôn viên này có xây dựng thêm một số nhà của phụ
thuộc như Tả, Hữu phối đường, Tả Hữu tòng viện dành cho 7 bà vợ thứ của
vua Dục Đức ăn ở để lo hương khói phụng thờ. Năm 1906, bà Từ Minh tạ
thế, triều đình cho quy hoạch lại khu vực lăng mộ vua Dục Đức, làm thành
một khu lăng kép, xây mộ bà gần mộ ông theo kiểu “song táng”, “càn khôn
hiệp đức”. Cuối năm 1945, ngay sau khi vua Duy Tân tử nạn máy bay ở
châu Phi, một cuộc lễ truy điệu nhà vua được tổ chức tại điện Long Ân và
thờ chung vua tại đây.

Năm 1954, khi vua Thành Thái mất, thi
hài được đưa về chôn tại địa điểm hiện nay trong khu vực An Lăng và được
thờ ở ngôi điện Long Ân. Năm 1987, hài cốt vua Duy Tân được đưa về an
táng cạnh lăng Thành Thái. Gần hai bên lăng vùa Thành Thái và Duy Tân
còn có lăng mộ của 3 bà vợ vua Thành Thái. Và năm 1994, hài cốt bà Mai
Thị Vàng (mất năm 1980), vợ vua Duy Tân được đưa vể chôn gần lăng mộ của
vua Duy Tân.
Ngoài ra, trong khu vực lăng Dục Đức hiện nay còn có 39 lăng mộ các ông hoàng bà chúa và 121 ngôi mộ đất thuộc Đệ tứ Chánh hệ.

Theo địa bộ cũ, lăng Dục Đức chiếm
một vùng đất rộng 56.144 m2, trong đó có khoảng 20 công trình kiến trúc
lớn nhỏ; chia ra làm hai khu vực: lăng và tẩm, nằm cách xa nhau khoảng
hơn 50 mét. Cả hai khu vực kiến trúc đều xây thành bao bọc chung quanh.
Lăng quay mặt về hướng tây bắc, dùng một ngọn đồi thấp, thường gọi là
cồn Phước Quả làm tiền án; lấy dòng khe chảy ngang trước mặt làm yếu tố
"minh đường" và dùng ngọn núi Tam Thai ở đằng sau làm "hậu chẩm".

Đi vào khu lăng mộ - diện tích 3.445m2
bằng một cửa tam quan khá lớn xây bằng gạch, trên làm mái giả. Sau cửa
là Bái đình, không có tượng đá như các lăng khác, mà chỉ xây lan can
bằng vôi gạch để trang trí. Trung tâm của lăng mộ nằm ngay sau cửa tam
quan thứ hai, có ngôi nhà Huỳnh Ốc được xây dựng trên một nền hình vuông
mỗi cạch 8 mét. Nhà xây như một phương đình với dạng cổ lầu, mái lợp
ngói hoàng lưu ly. Bờ nóc bờ quyết chắp hình rồng và phụng, nội thất
trang hoàng đơn giản.
Duy Hoà (Theo Sưu tầm) |