Tư vấn du lịch Huế: Yahoo! Messenger Hotline: 0914.242.096 Mr Hòa

Thuyết minh Thừa Thiên Huế: Địa chất

( Chủ nhật 10/10/2010 | Lượt xem: 6065 )

Du Lịch Huế - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT LÃNH THỔ THỪA THIÊN HUẾ

Vào khoảng trên 500 triệu năm trở về trước, tức là vào thời cổ đại, diện tích Thừa Thiên Huế ngày nay vốn là đáy đại dương. Trải qua thời gian dài ở đó đã xảy ra quá trình lắng đọng, nén ép các loại đất đá và tạo nên bề mặt lãnh thổ Thừa Thiên Huế ngày nay.

Cấu trúc địa chất lãnh thổ Thừa Thiên Huế rất đa dạng, bao gồm 16 phân vị địa tầng và 7 phức hệ macma xâm nhập. Các đá cứng macma, đá biến chất và đá trầm tích gồm nhiều loại khác nhau, chiếm trên 3/4 diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi phía Tây, Tây Nam và phía Nam của tỉnh và trầm tích bở rời phần lớn tập trung ở đồng bằng duyên hải, chiếm gần 1/4 diện tích lãnh thổ chính là nguồn gốc của sự phong phú các loại tài nguyên khoáng sản, tài nguyên đất, tài nguyên nước dưới đất. Sự đa dạng và phong phú về chủng loại đó được xếp đặt dàn trải trên một địa hình phức tạp, có độ dốc lớn và bị chia cắt mạnh nên có ít loại tài nguyên, khoáng sản hoặc tài nguyên đất, nước nào có phân bố tập trung, với số lượng lớn.

DSCF2008 edited 1 Thuyết minh Thừa Thiên Huế: Địa chất Sinhviendulich.NET

CÁC ĐÁ BIẾN CHẤT

+ Hệ tầng Núi Vú: Phân bố ở Nhâm, A Pây (A Lưới), gồm các đá phun trào mafic xen trầm tích lục nguyên cacbonat, trầm tích lục nguyên silic. Chúng bị biến chất mạnh. Phần dưới hệ tầng khi bị biến chất nhiệt có chứa vàng. Chiều dày hệ tầng Núi Vú trên 1.000m.

+ Hệ tầng A Vương: Phân bố ở Tây Nam A Lưới và đặc trưng là đá phiến serixit – clorit – thạch anh, đá phiến thạch anh, đá phiến sét giàu hữu cơ, quarzít, đá hoa. Chúng bị biến chất mạnh. Một số lớp đá phiến chứa sunfua, có thể liên quan đến vàng. Chiều dày của hệ tầng khoảng 1.700m.

+ Hệ tầng Long Đại: So với các đá hệ tầng Núi Vú và A Vương, các đá biến chất hệ tầng Long Đại có độ biến chất yếu hơn nhưng phân bố rộng rãi khắp lãnh thổ Thừa Thiên Huế. Thành phần của hệ tầng gồm các đá lục nguyên, phần trên xen cacbonat. Chiều dày hệ tầng khoảng 2.380m.

huethahuong1 Thuyết minh Thừa Thiên Huế: Địa chất Sinhviendulich.NET

CÁC ĐÁ TRẦM TÍCH

+ Hệ tầng Tân Lâm: Hệ tầng Tân Lâm có tuổi xếp vào Đevon sớm phân bố dạng nếp lõm hẹp ở thượng nguồn sông Ô Lâu, kéo dài qua Huế đến Truồi… Thành phần hệ tầng chủ yếu là phiến sét màu tím gụ, đá phiến sét màu xám. Chiều dày hệ tầng khoảng 1.200m.

+ Hệ tầng Còbai: Trầm tích cacbonat hệ tầng Còbai (còn có tên gọi là La Khê hoặc Phong Sơn) phân bố ở Hương Trà, Phong Điền, Nam Đông và có thành phần đặc trưng là đá vôi màu xám đen, xám sáng. Chúng xuất lộ với diện tích nhỏ ở Long Thọ, Khe Đe, Thượng Quảng, còn ở vùng Phong Điền, Hương Trà thường bị các trầm tích trẻ che phủ. Chiều dày hệ tầng xấp xỉ 500m. Địa danh Phong Sơn được đặt tên cho hệ tầng vì ở đây đã vôi đủ tiêu chuẩn sản xuất xi măng và chứa tay cuộn san hô được xếp tuổi vào Đevon trung – Cacbon hạ.

+ Hệ tầng A Lin: Các đá tuổi Pecmi hệ tầng A Lin phân bố liên tục dọc theo đứt gãy Đakrong – A Lưới. Thành phần của hệ tầng là trầm tích phun trào gồm Andezit xen tuf màu xám lục, cuội sạn kết, bột kết tuf. Chiều dày hệ tầng 650-750m.

+ Hệ tầng A Ngo: Trầm tích tuổi Jura hạ, hệ tầng A Ngo (trước đây còn có tên gọi là Hữu Niên và Thọ Lâm) phân bố với diện tích nhỏ ở vùng A Lưới. Thành phần hệ tầng là cuội sạn kết, cát kết có màu tím gụ, nâu đỏ rất đặc trưng (phát hiện ở A Ngo). Chiều dày hệ tầng khoảng 1.000m.

hatr24 260708162222 Thuyết minh Thừa Thiên Huế: Địa chất Sinhviendulich.NET

TRẦM TÍCH BỞ RỜI

+ Hệ tầng Vĩnh Điện: Trầm tích tuổi Pliocen, hệ tầng Vĩnh Điện (còn có tên gọi là Ái Nghĩa) phân bố rộng rãi ở đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế. Chúng bị các trầm tích trẻ hơn che phủ và có thành phần là cuội sạn kết, cát kết, bột kết, sét kết màu xám tro, gắn kết yếu. Chiều dày hệ tầng khoảng 100-120m.

+ Thành tạo tuổi Pliocen – Pleistocen: Các thành tạo này phân bố từng diện nhỏ ở Bồ Điền, Lại Bằng, tả ngạn sông Tả Trạch với thành phần là cuội sỏi đa khoáng, cát bột gắn kết bằng sét caolin. Trên bề mặt chúng thường bị laterit hóa và kết cứng. Chiều dày biến đổi từ 10-50m.

+ Hệ tầng Tân Mỹ: Trầm tích Pleistocen hệ tầng Tân Mỹ được xác lập theo mặt cắt địa chất ở lỗ khoan HU-7 (Tân Mỹ – Phú Tân). Hệ tầng có thành phần lục nguyên hạt thô đến mịn gồm 3 tướng (nguồn gốc): sông (a); sông biển (am), sông biển đầm lầy (amb). Thành phần hệ tầng gồm sạn sỏi, cát hạt thô (a,am) dày 5,3-46m; sét pha cát màu xanh đen lẫn di tích thực vật (amb) dày 1,8-12 mét.

+ Hệ tầng Quảng Điền: Trầm tích Pleistocen nhiều nguồn gốc, hệ tầng Quảng Điền được xác lập dựa theo mặt cắt địa chất lỗ khoan HU-6 ở thị trấn Sịa (Quảng Điền). Thành phần của hệ tầng gồm cát sạn sỏi, cuội lẫn ít bột sét màu xám trắng (a, ap, am) dày 5,8 – 63 mét, bột sét lẫn ít cát chứa vật chất hữu cơ và than bùn (amb) dày 4,5 – 26,6 mét. Phần trên mặt cắt bị phong hóa mạnh mẽ, đôi nơi tạo thành tầng kết vón laterit có hàm lượng sắt cao. Trong trầm tích sông lũ (ap) có chứa thấu kính sét bột loang lổ đạt tiêu chuẩn sét xi măng.

+ Hệ tầng Phú Xuân: Trầm tích Pleistocen thượng nhiều nguồn gốc, hệ tầng Phú Xuân được xác lập dựa theo mặt cắt lỗ khoan HU-8 ở Phú Xuân (Phú Vang). Thành phần của hệ tầng gồm cát sạn lẫn cuội (a, ap) dày 2,5 – 9,5 mét, cát màu vàng nghệ – tương ứng hệ tầng Đà Nẵng (m) dày 3 – 20 mét, bột sét lẫn ít cát màu xám vàng, xám xanh (amb) dày 1,5 – 37,5 mét. Trên bề mặt xuất lộ, hệ tầng bị phong hóa mạnh, có hàm lượng oxít sắt cao.

+ Hệ tầng Phú Bài: Trầm tích Holocen hạ – trung nhiều nguồn gốc, hệ tầng Phú Bài có thành phần gồm sét bột màu xám đen dẻo quánh (amb) dày 10 – 22,4 mét, cát thạch anh màu trắng – tương ứng hệ tầng Nam Ô (m), đạt tiêu chuẩn cát thuỷ tinh dày 6,2 – 23,5 mét, cát hạt trung đến mịn màu xám trắng, xám vàng (mv) dày 2 – 5 mét.

+ Hệ tầng Phú Vang: Trầm tích Holocen trung – thượng hệ tầng Phú Vang phân bố rộng rãi dọc theo các cửa sông và ven đầm phá Tam Giang. Thành phần hệ tầng gồm cát, cuội, tảng lẫn bột sét (a,ap) dày 1 – 8 mét; cát, cuội lẫn sét màu xám tro, xám đen dẻo quánh (am) dày 2 – 15 mét; bột sét lẫn ít cát và di tích thực vật màu xám đen (amb) dày 2 – 4m; cát hạt nhỏ đến trung màu xám, xám sáng chứa khoáng vật inmenit, zircon (m;mv) dày 5 – 25 mét.

1242524559 Thuyết minh Thừa Thiên Huế: Địa chất Sinhviendulich.NET

CÁC ĐÁ XÂM NHẬP

Các đá xâm nhập trên lãnh thổ Thừa Thiên Huế được xếp vào các phức hệ sau:

+ Phức hệ Núi Ngọc: Phân bố rải rác ở Nam A Lưới, có thành phần là gabro, gabrodiabaz màu lục nhạt, có độ xạ thấp, được xếp tuổi giả định vào Paleozoi sớm (904 ± 13 triệu năm).

+ Phức hệ Điệng Bông: Phân bố ở Nam A Pây, có thành phần là Plaziogranit – biotit – muscovit, hạt vừa đến nhỏ, có độ xạ thấp – trung bình, được xếp tuổi vào Paleozoi sớm.

+ Phức hệ Đại Lộc: Phân bố rộng rãi ở A Ram, Bình Điền, Nam Đông, có thành phần là granitbiotit, granit hai miền dạng porphyr, ban tinh lớn, cấu tạo dạng gneis, được xếp vào tuổi Đevon. (310 – 300 triệu năm).

+ Phức hệ Bến Giằng – Quế Sơn: Phân bố ở Rào Trăng, Bình Điền, Nam Đông, có thành phần là gabrodiorit , diorit thạch anh, diorit biotit horblend hạt nhỏ – vừa, granodiorit horblend hạt vừa, được xếp tuổi Paleozoi muộn (243 triệu năm).

+ Phức hệ Chà Val: Phân bố dọc sông Tả Trạch và ở Chà Val (Phú Lộc) có thành phần là pyroxenit, gabro pyroxenit, gabrodiorit có độ hạt từ vừa đến cực lớn, được xếp tuổi sát trước Triat muộn.

+ Phức hệ Hải Vân: Phân bố rộng khắp ở phía Nam và Tây Nam lãnh thổ Thừa Thiên Huế, có thành phần là granitbiotit, granit hai mica dạng porphyr, granit aplit hạt nhỏ, được xếp tuổi sát trước Triat muộn

+ Phức hệ Bà Nà: Phân bố rải rác thành các khối nhỏ ở thượng nguồn sông Bồ, Hương Thọ, có thành phần là grannit biotit,granit hai mica hạt lớn, granit alaskit hạt nhỏ, được xếp tuổi giả định sát Paleogen (130 – 40 triệu năm).

HOẠT ĐỘNG KIẾN TẠO

* Các đới kiến tạo
Diện tích Thừa Thiên Huế nằm gọn trong hai đới cấu trúc Long Đại và A Vương. Ranh giới phân đôi là đứt gãy Đakrông – A Lưới.

+ Đới Long Đại: Đới Long Đại được phân ra hai phụ đới là Đồng Hới và Huế. Toàn bộ diện tích phía Bắc, Đông Bắc và phía Đông của Thừa Thiên Huế nằm gọn trong phụ đới Huế. Tham gia vào cấu tạo phụ đới Huế có các phức hệ thạch kiến tạo sau: Paleozoi hạ – trung (hệ tầng Long Đại – thành phần lục nguyên xen ít silic có cấu tạo dạng flysh); Paleozoi trung (phức hệ macma xâm nhập Đại Lộc – thành phần granit dạng gneis, phức hệ Tân Lâm – thành phần lục nguyên màu tím gụ, hệ tầng Phong Sơn – thành phần cacbonat chứa tay cuộn san hô môi trường biển ven bờ); Paleozoi thượng (hệ tầng A Lin – thành phần lục nguyên, phun trào andezit, phức hệ macma xâm nhập Bến Giằng Quế Sơn – diorit biotit, granơdiorit, granit); Mezozoi hạ (phức hệ macma xâm nhập Hải Vân – granit cao nhôm và kali, phức hệ macma xâm nhập Chà Val – pyroxenit, gabro pyroxenit hạt vừa đến cực lớn); Kainozoi (phức hệ macma xâm nhập Bà Nà – granit bionit granit hai mica dạng porphyr, hệ tầng Vĩnh Điện – trầm tích hạt thô đến mịn gắn kết yếu, trầm tích Đệ tứ bở rời lấp đầy trũng Kainozoi ở đồng bằng Huế). Các phức hệ thạch kiến tạo phụ đới Huế bị uốn nếp và vò nhàu tạo thành nếp lồi, nếp lõm bất đối xứng kéo theo hướng Tây Bắc – Đông Nam hoặc theo hướng á vĩ tuyến có độ dốc phổ biến của cánh phía Đông là 40 – 700.

+ Đới A Vương: Đới A Vương chiếm diện tích nhỏ ở Tây – Tây Nam lãnh thổ Thừa Thiên Huế. Tham gia vào cấu tạo của đới này có các phức hệ thạch kiến tạo sau: Neoproterozoi – paleozoi hạ (hệ tầng Núi Vú – trầm tích lục nguyên phun trào mafic biến chất mạnh; hệ tầng A Vương – trầm tích lục nguyên silic biến chất mạnh; phức hệ macma xâm nhập Núi Ngọc – gabro diabaz màu lục nhạt; phức hệ macma xâm nhập Điệng Bông – pladiogranit biotit – muscovit); Paleozoi hạ – trung (hệ tầng Long Đại – trầm tích lục nguyên xen silic có cấu tạo dạng flysh); Paleozoi trung (phức hệ macma xâm nhập Đại Lộc – granit biotit, granit hai mica dạng porphyr, ban tinh lớn, cấu tạo dạng gneis; hệ tầng Tân Lâm – trầm tích lục nguyên – phun trào Andezít); Mezozoi thượng (hệ tầng A Ngo – trầm tích lục nguyên hạt thô màu tím gụ nâu đỏ rất đặc trưng); Kainozoi (trầm tích Đệ tứ – cuội, sạn, sét bột ở thung lũng địa hào A Lưới dọc theo bề mặt đứt gãy Talao – La Dụt).

Các phức hệ thạch kiến tạo chủ yếu ở đới A Vương có mức độ biến chất cao, uốn nếp vò nhàu mạnh và có phương kéo theo Tây Bắc – Đông Nam với độ dốc cánh vừa phải (10 – 350); các thành tạo trẻ luôn có độ uốn nếp vừa và độ dốc của cánh lớn hơn (50 – 700).

* Các đứt gãy kiến tạo:

+ Đứt gãy phân đới: Đứt gãy Đakrong – A Lưới là đứt gãy phân đới kéo dài trên 200km theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đoạn Ta Lao – La Dụt (ở lãnh thổ Thừa Thiên Huế) dài 30km, đứt gãy này cắm theo hướng Đông Bắc, góc cắm 70 – 800. Dọc theo đứt gãy là đới cà nát rộng 2 – 5km.

+ Đứt gãy nội đới:

Các đứt gãy Quảng Trị – Huế – Phú Lộc, Ta lao – Văn Xá Huế, đứt gãy Lasan – đường 14, có hướng Tây Bắc – Đông Nam. Điểm nước khoáng nóng Thanh Tân nằm trong đới ảnh hưởng của đứt gãy Talao – Văn Xá – Huế, còn các nguồn nước khoáng nóng ở Phú Vang nằm trong vùng ảnh hưởng của đứt gãy Quảng Trị – Huế – Phú Lộc.

Các đứt gãy dọc sông Bồ, sông Tả Trạch, A Sung – Hoà Mỹ có phương á vĩ tuyến và Tây Nam – Đông Bắc. Dọc theo các đứt gãy thường xuất hiện các khối macma xâm nhập, các đới tiếp xúc và vò nhàu tạo nên đới đập vỡ rộng 500-600m hoặc hàng nghìn mét.

* Hoạt động tân kiến tạo: Hoạt động phá huỷ kiến tạo trên địa bàn Thừa Thiên Huế không chỉ xảy ra phức tạp và nhiều lần trong quá khứ xa xưa mà còn tiếp tục trong giai đoạn hiện nay. Biểu hiện cụ thể cho hoạt động này là quá trình macma xâm nhập trẻ phức hệ Bà Nà ở Hương Thọ; chuyển động phân dị khối tảng với sự nâng cao khối núi dạng địa luỹ ở đội A Vương và quá trình lấp đầy trầm tích Kainozoi ở đồng bằng duyên hải. Ngoài ra thời gian qua còn gặp các hiện tượng nứt đất xảy ra ở Hương Hồ, Thuỷ Biểu, Phú Thượng, Thuỷ Châu, Phú Bài đã ít nhiều gây ảnh hưởng cho cuộc sống của nhân dân.

Nguồn: www.thuathienhue.gov

Xem thêm chủ đề: du lịch hue, tour du lich hue,
Du Lịch huế - Tuyển nhân viên tại nhà hàng An An