Tư vấn du lịch Huế: Hotline: 0914.242.096 Mr Hòa

Thuyết minh Thừa Thiên Huế: Khoáng sản

( Thứ bảy 09/10/2010 | Lượt xem: 7541 )

Du Lịch Huế - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHOÁNG SẢN, TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT, NƯỚC KHOÁNG

Trên lãnh thổ Thừa Thiên Huế đã phát hiện được 120 mỏ, điểm khoáng sản với 25 loại khoáng sản, tài nguyên nước dưới đất, phân bố đều khắp, trong đó chiếm tỷ trọng đáng kể và có giá trị kinh tế là các khoáng sản phi kim loại và nhóm vật liệu xây dựng.

Nhóm khoáng sản nhiên liệu chủ yếu là than bùn, phân bố từ Phong Điền ở phía Bắc đến Phú Lộc ở phía Nam, với các mỏ có trữ lượng lớn, chất lượng tốt và điều kiện khai thác thuận lợi tập trung ở khu vực xã Phong Chương, huyện Phong Điền. Trữ lượng các mỏ than bùn ở khu vực các trằm tại Phong Chương được đánh giá lên tới 5 triệu mét khối. Chất lượng than bùn Thừa Thiên Huế thuộc loại tốt, có những mỏ có độ mùn đạt trên 50% và hàm lượng axit humic đạt 30-40%. Hiện tại than bùn ở đây đang được khai thác để chế biến phân hữu cơ vi sinh.

Nhóm khoáng sản kim loại có sắt, titan, chì, kẽm, vàng, thiếc,… với trữ lượng nói chung không lớn, trừ sa khoáng titan. Nhóm khoáng sản phi kim loại và nhóm vật liệu xây dựng là các nhóm có triển vọng lớn nhất của Thừa Thiên Huế, bao gồm pyrit, phosphorit, kaolin, sét, đá granit, đá gabro, đá vôi, cuội sỏi và cát xây dựng. Đặc biệt là do cấu tạo địa chất, như thân quặng đá vôi chạy từ Bắc vào Nam, đến khu vực Thừa Thiên Huế là kết thúc, tạo ra một lợi thế cạnh tranh cho ngành sản xuất xi măng, mà đá vôi là nguyên liệu chính. Đa số các khoáng sản phi kim loại này đang được khai thác, ngành công nghiệp khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng đang trở thành ngành công nghiệp quan trọng của tỉnh.

Tài nguyên nước dưới đất khá phong phú, bao gồm cả nước nhạt và nước khoáng nóng, được phân bố tương đối đều trên địa bàn toàn tỉnh. Các khu vực kéo từ các xã Phong Chương, Phong Hiền, huyện Phong Điền đến xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền, từ xã Phong Sơn, huyện Phong Điền đến thị trấn Tứ Hạ, huyện Hương Trà, khu vực thị trấn Phú Bài, huyện Hương Thủy là những vùng chứa nước dưới đất có triển vọng nhất cho khai thác và sử dụng của Thừa Thiên Huế. Tổng trữ lượng nước dưới đất ở các vùng đã nghiên cứu ở cấp C1 đạt gần 9.200m3/ngày. Chính lượng nước này cùng với hệ thống các thủy vực dày đặc với tổng lượng nước mặt phong phú đã đảm bảo cho Thừa Thiên Huế tránh được những đợt hạn hán khốc liệt và kéo dài.

Bảy nguồn nước khoáng nóng có thể sử dụng để uống và chữa bệnh phân bố từ vùng rừng núi, gò đồi đến đồng bằng ven biển, đã được phát hiện ở Thừa Thiên Huế. Đáng chú ý nhất trong số này là ba điểm Thanh Tân, Mỹ An và A Roàng. Nguồn nước khoáng nóng Thanh Tân nằm ở xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, được người Pháp phát hiện từ năm 1928, thuộc loại nước khoáng silic, nhiệt độ cao nhất ở điểm xuất lộ là 69°C, lưu lượng tự chảy ở nguồn xuất lộ lớn nhất là 165m3/ngày. Nước khoáng nóng Thanh Tân đã được xử lý, đóng chai thành nước giải khát với nhiều nhãn hiệu khác nhau và được tiêu thụ ở các thị trường khắp cả nước. Thương hiệu Thanh Tân đã được công nhận là thương hiệu có uy tín của Việt Nam. Khu vực các điểm xuất lộ nguồn nước khoáng nóng Thanh Tân nằm ngay chân dãy Trường Sơn, đang được khai thác dưới dạng một khu du lịch sinh thái kết hợp nghỉ dưỡng, phục hồi sức khoẻ có sức hấp dẫn không chỉ với người dân Thừa Thiên Huế. Nguồn nước khoáng nóng Mỹ An ở xã Phú Dương, huyện Phú Vang được phát hiện lần đầu từ năm 1979, có thành phần hoá học chủ yếu là Clorua Bicacbonat Natri, lưu lượng là 1.590m3/ngày và nhiệt độ ở điểm xuất lộ là 54°C. Với lợi thế gần thành phố Huế, điểm nước khoáng nóng Mỹ An đã được khai thác, sử dụng thành khu dịch vụ du lịch ngâm tắm, chữa bệnh. Nguồn nước khoáng nóng ở xã A Roàng, huyện A Lưới, có tên gọi là Tà Lài hoặc Aka, được phát hiện từ năm 1980, nhưng rất gần đây, sau khi đường Hồ Chí Minh hoàn thành, đi qua ngay bên cạnh điểm xuất lộ, việc khai thác, sử dụng nguồn nước khoáng này phục vụ cho du lịch đã được đặt ra. Nước khoáng A Roàng có độ khoáng hoá thấp, thành phần hoá học chủ yếu là Bicacbonat Natri, và có nhiệt độ vừa phải (50°C).

NHÓM KHOÁNG SẢN NHIÊN LIỆU

- Than bùn: Phân bố chủ yếu ở vùng Phong Điền, tập trung vào 06 trằm bàu Phong Nguyên, Niêm, Thiềm, Hoá Chăm, Bàu Bàng, Bàu Sen. Than bùn là những lớp mỏng, thấu kính nằm xen trong cát, bột, sét.

Về chất lượng than bùn, theo kết quả phân tích mẫu than bùn Phong Nguyên thì giá trị trung bình của các chỉ tiêu chủ yếu như:

Hàm lượng NPK: N tổng số = 0,294-1,150%, P2O5 tổng số = 0,053-0,151% và P2O5 dễ tiêu = 0,026 – 0,140%, K2O dễ tiêu = 0,024 – 0,068%.

Chỉ tiêu kỹ thuật: Độ ẩm = 5,11 – 14,40%; Độ tro = 29,41 – 81,20%; Chất bốc = 11,00 – 40,47%, nhiệt lượng = 210 – 4.323 kcal/kg.

Nguyên tố vi lượng: Mg = 0,100 – 0,300%, Mn = 0,001 – 0,200%, Ti = 0,100 – 0,500%, Cu = 0,001 – 0,003%.

Theo số liệu thăm dò trữ lượng than bùn Phong Điền khoảng 3.000.000 m3. Than bùn có chất lượng, trữ lượng đảm bảo, điều kiện khai thác khá thuận lợi nên dễ dàng khai thác và chế biến dùng làm phân bón, chất đốt…

- Dầu khí: Tài liệu đo địa chấn và phân tích cấu trúc cho thấy ở thềm lục địa lãnh thổ Thừa Thiên Huế có triển vọng về dầu khí.

NHÓM KHOÁNG SẢN KIM LOẠI

- Sắt: Quặng sắt ở Thừa Thiên Huế thuộc các kiểu manhetit – hematit và limonit. Quặng sắt manhetit – hematit gặp ở Hoà Mỹ, Phong Xuân, Hương Văn, Đá Đen (quặng thứ sinh nguồn gốc tàn tích) và ở Phúc Gia, Tuần Lương (quặng gốc nhiệt dịch). Hàm lượng sắt đạt 35-65%. Quặng sắt limonit gặp ở Vĩ Dạ Thượng, Thượng Long, A Xiêm. Các thân quặng sulfur chứa sắt phân bố dọc các đứt gãy kiến tạo. Hàm lượng sắt đạt 13 – 35%. Trữ lượng dự báo quặng sắt ở Thừa Thiên Huế khoảng 3 – 4 triệu mét khối và hiện đang được khai thác làm phụ gia xi măng cho các nhà máy trong tỉnh.

- Ti tan: Ti tan ở Thừa Thiên Huế phân bố thành dải không liên tục dọc bờ biển trong trầm tích biển gió hệ tầng Phú Vang. Các điểm Vinh Mỹ, Phú Diên, Vinh Xuân… là nơi giàu sa khoáng ti tan. Hàm lượng khoáng vật tạo quặng trung bình như sau: Inmenit – 48.80kg/m3; rutin – 346kg/m3; zicron – 11,37kg/m3, monezit – 0,45kg/m3. Trữ lượng dự báo sa khoáng ti tan ở Thừa Thiên Huế là 4 triệu tấn và điều kiện khai thác tương đối phức tạp do liên quan đến ổn định mong khai thác và tháo khô.

- Chì kẽm: Quặng chì – kẽm phát hiện được ở sông Bồ, Khe Thai nhưng hàm lượng rất nghèo, ít có triển vọng.

- Arsen: Quặng arsen phát hiện được ở Khe Trăng (Nam Đông) thuộc kiểu quặng thạch anh arsenopyrit, có hàm lượng arsen đạt 5,2%. Ở Bản Gôn hàm lượng arsenopyrit có thể đạt 10-35% nhưng chưa được điều tra chi tiết.

- Quặng gốc thiếc: Được phát hiện ở Khe Thượng, Khe Ly (Hương Trà). Tại Khe Thượng có 4 đới phân bố ở phần rìa phía Đông của khối granit Bến Tuần. Tại Khe Ly có điểm quặng thiếc nằm ở phần thấp mặt cắt các trầm tích sông – lũ hệ tầng Phú Xuân, đã được tìm kiếm đánh giá cho thấy hàm lượng casiterit đạt 230 – 983g/m3. Trữ lượng dự báo tiềm năng đạt 60,17 tấn và trữ lượng khai thác tiềm năng (cấp C2 + P) là 28,02 tấn.

- Quặng wolfram gốc: Phát hiện được ở Khe Trăng. Hàm lượng wolfram ở điểm quặng này đạt 0,16%.

Như vậy quặng gốc thiếc và wolfram ở đây có hàm lượng nghèo. Song sa khoáng thiếc và wolfram rất có giá trị nên cần phải được nghiên cứu và khai thác sử dụng.

- Vàng: Đã phát hiện được 29 vành phân tán, 21 điểm quặng, 4 điểm sa khoáng vàng ở A Lưới và Nam Đông. Các điểm quặng vàng trong đá lục nguyên biến chất hệ tầng Núi Vú là có triển vọng nhất. Trữ lượng dự báo ở điểm quặng vàng Apey khoảng 1,95 tấn.

NHÓM KHOÁNG SẢN KHÔNG KIM LOẠI

- Pyrit: Hiện nay đã phát hiện được 4 mỏ và 12 điểm quặng pyrit ở Nam Đông, trong đó có mỏ Bản Gôn (pyrit – vàng), mỏ La Vân (pyrit), mỏ Hưng Phú (pyrit), mỏ Hương Hữu (pyrit). Mỏ Bản Gôn có hàm lượng pyrit cao nhất. Trữ lượng pyrit dự báo trên 2 triệu tấn. Điều kiện khai thác vận chuyển rất phức tạp.

- Phosphorit: Gặp trong các hang động Kast đá vôi Khe De (Nam Đông). Hàm lượng P2O5 đạt 5,33 – 6,34%. Trữ lượng phosphorit ít và điều kiện khai thác không thuận lợi.

- Kao lin: Đã Phát hiện được 11 mỏ và điểm quặng kiểu phong hoá từ các đá phiến sét giàu nhôm và đá mạch áp lít. Trong đó kaolin ở Bốt Đỏ (A Lưới) có chất lượng tốt đang được khai thác và sản xuất kaolin tinh luyện. Trữ lượng kaolin ở Thừa Thiên Huế đạt khoảng 13 triệu tấn. Điều kiện khai thác khá thuận tiện.

- Cát thuỷ tinh: Phân bố ở Phong Điền và Phú Vang. Đây là cát màu xám trắng nguồn gốc biển (m) hệ tầng Phú Vang (tương ứng hệ tầng Nam Ô). Hàm Lượng SiO2 đạt 97,48 – 98,04% (ở Nam Ô, Đà Nẵng đạt 96%). Trữ lượng cát thuỷ tinh trên 50 triệu tấn. Điều kiện khai thác vận chuyển thuận lợi.

NHÓM VẬT LIỆU XÂY DỰNG VÀ NGUYÊN LIỆU KHÁC

- Sét gốm sứ (Sét hấp thụ): Hiện nay đã có 2 mỏ sét gốm sứ được tìm kiếm đánh giá ở Phú Bài và Hương Hồ với trữ lượng trên 6 triệu tấn và 1 điểm tìm kiếm chi tiết ở Hoà Mỹ với trữ lượng dự báo 921.000 tấn.

- Sét xi măng: Có nguồn gốc phong hoá từ các đá phiến sét hệ tầng Tân Lâm và nguồn gốc sông biển đầm lấy hệ tầng Phú Vang (ở Đồng Lâm và Văn Xá). Nhìn chung các chỉ tiêu kỹ thuật đạt làm phụ gia xi măng, có quy mô và trữ lượng lớn, dễ khai thác.

- Sét gạch ngói: Đã được phát hiện và khai thác ở nhiều mỏ quy mô vừa và nhỏ, ở A Sầu, Hoà Mỹ, Lộc An, Lộc Điền… Trữ lượng dự báo sét gạch ngói ở Lộc Điền khoảng 0,4 triệu mét khối, A Sầu khoảng 1,207 triệu mét khối, ở Bốt Đỏ khoảng 5,379 triệu tấn.

- Đá vôi: Phân bố ở địa bàn Phong Sơn – Văn Xá – Huế và ở Thượng Quảng – Khe Đe. Thành phần phân tích hoá cho thấy đá vôi đủ tiêu chuẩn để sản xuất xi măng.Trữ lượng đá vôi dự báo khoảng 1 tỷ tấn. Hiện nay đá vôi ở Văn Xá, Long Thọ đang được khai thác phục vụ cho các nhà máy sản xuất xi măng ở Thừa Thiên Huế. Ngoài ra ở đầm An Cư hàng năm đã khai thác một lượng vỏ sò ốc khoảng 5-7 nghìn tấn để nung vôi có chất lượng tốt.

- Đá xây dựng:

Granit: Đá Granit thuộc các phức hệ macma xâm nhập Đại Lộc, Bến Giằng – Quế Sơn, Hải Vân, Bà Nà đủ tiêu chuẩn khai thác sử dụng làm vật liệu xây dựng và đá ốp lát. Trữ lượng dự báo trên 29 tỷ tấn. Điều kiện khai thác và vận chuyển đá granit thuận lợi.

Gabropyroxenit: Đá gabropyroxenit thuộc phức hệ macma xâm nhập Chà Val có màu xanh đen, xanh đen lốm đốm trắng đã được khai thác sản xuất đá ốp lát, phục vụ trang trí nội thất và xuất khẩu. Đây là mặt hàng đặc trưng ở Thừa Thiên Huế.

Quarzit: Mỏ quarzit Hương Phong có trữ lượng khoảng 5 triệu mét khối. Đá có màu xám xi măng, cứng chắc không nứt nẻ. Điều kiện khai thác và vận chuyển thuận lợi.

Cát, cuội, sỏi: Làm vật liệu xây dựng tập trung dọc các thung lũng sông suối như sông Bồ, sông Tả Trạch, Hữu Trạch, sông Hương, sông Truồi… Chất lượng cát cuội sỏi tốt. Trữ lượng lớn và điều kiện khai thác vận chuyển thuận lợi. Ngoài ra ở thềm lục địa ven bờ (Đông Nam Thuận An) có nguồn cuội sỏi rất phong phú có thể khai thác làm vật liệu xây dựng.

55189019 dungnktoan canh kinh thanh Thuyết minh Thừa Thiên Huế: Khoáng sản Sinhviendulich.NET

TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT

Trên lãnh thổ Thừa Thiên Huế đã xác lập được các đơn vị chứa nước và không chứa nước sau đây:

* Các tầng chứa nước lỗ hổng:

- Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Holocen: Phân bố rộng rãi ở đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế, và được xếp vào các hệ tầng Phú Bài, Phú Vang. Thành phần gồm cát sạn sỏi, cát bột, cát thạch anh hạt mịn. Chiều dày chứa nước 20,4 – 30,6m (các lớp cát) và 11,72 – 24,5m (các lớp cát bột). Lưu lượng nước ở các lỗ khoan 1,76 – 5,66l/s và 2,88 – 7,95l/s. Độ khoáng hoá của nước 0,05 – 0,89g/l. Ở ven cửa sông nước tầng này thường bị nhiễm mặn. Nhân dân thường đào giếng hoặc thi công giếng khoan đường kính nhỏ để lấy nước tầng này phục vụ cho sinh hoạt.

- Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Pleistocen: Đây là tầng chứa nước có ý nghĩa lớn nhất ở Thừa Thiên Huế. Trầm tích Pleistocen thường phân bố ở độ sâu 15 – 50m, chiều dày chứa nước trung bình 15 – 40m, có nơi đạt 145,8 mét (Phong Chương, Phong Điền). Lưu lượng nước ở các lỗ khoan đạt 3,4 – 21,291/s tương đương 300 – l.800m3/ngày. Nước có chất lượng tốt. Độ khoáng hoá 0,11 -0,98g/l. Hiện nay ở Phú Bài đã có những giếng khoan khai thác nước từ tầng này để cấp nước sinh hoạt.

- Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Neogen: Có thành phần là cuội sỏi kết, cát kết, sét kết gắn kết yếu. Chiều dày chứa nước 39 – 117,8m. Lưu lượng nước ở các lỗ khoan 2,86 – 10,72l/s. Chất lượng nước tốt. Ở vùng Thuận An các lỗ khoan nghiên cứu tầng này đã gặp nước khoáng nóng với nhiệt độ 43 – 54°C và độ khoáng hoá 1,73 – 3,66 g/l. Đây là vùng nước khoáng sunfuahyđro có ý nghĩa sử dụng cho tắm ngâm chửa bệnh hô hấp, tim mạch, khớp và ngoài da.

* Các tầng chứa nước khe nứt:

Trầm tích lục nguyên các hệ tầng A Ngo, A Lin, Tân Lâm; trầm tích cacbonat hệ tầng Phong Sơn; trầm tích biến chất hệ tầng Long Đại, A Vương, Núi Vú đều có khả năng chứa nước, song mức độ phong phú khác nhau.

- Các tầng chứa nước rất kém và cách nước:

Các đá xâm nhập: Các đá xâm nhập thường rất rắn chắc, ít nứt nẻ, phân bố ở vùng núi cao nên khả năng tàng trữ nước rất kém, lưu lượng các điểm lộ nước 0,05 – 0,2l/s – rất nghèo nước.

Trầm tích sông biển đầm lầy hệ tầng Phú Xuân: Trong trầm tích hệ tầng Phú Xuân có lớp sét bột dẻo quánh màu đen, sét lẫn ít sạn màu xám đen, với chiều dày 10 – 25m, phân bố ở độ sâu 10 – 30m. Đây là lớp cách nước.

- Trầm tích sông biển đầm lầy hệ tầng Phú Bài: Trong hệ tầng Phú Bài có 2 lớp cách nước, lớp thứ nhất ở đáy tầng với thành phần là sét, sét bột lẫn vỏ sò ốc và vật chất hữu cơ màu xám đen dẻo quánh có chiều dày 2 – 28,7m (trung bình 9 – 20m), lớp thứ hai nằm ở gần mặt đất với thành phần là sét bột lẫn ít cát chứa vật chất hữu cơ màu xám đen, nâu đen dày 2 – 4m.

- Các vùng triển vọng trong khai thác nước dưới đất.

Vùng Phong Điền – Quảng Điền: Tại đây các trầm tích Kainozoi đều có khả năng chứa nước, nhưng tầng có ý nghĩa khai thác tập trung quy mô lớn là các trầm tích Pleistocen. Lưu lượng trung bình các lỗ khoan 10 – 15l/s. Chiều sâu các công trình khai thác khoảng 50 – 80m.

Vùng Phong Sơn: Đối tượng chứa nước ở đây là đá vôi và trầm tích Pleistocen. Có thể khai thác tổng hợp cả hai tầng này. Lưu lượng trung bình của các lỗ khoan có thể đạt 151/s. Chiều sâu các công trình khai thác khoảng 50 – 70m.

Vùng Phú Bài: Tầng chứa nước có ý nghĩa ở đây là trầm tích Pleistocen. Lưu lượng trung bình các lỗ khoan là 201/s. Độ sâu bố trí công trình khoảng 50 – 80m.

Một số vùng khác: Ngoài những nơi có thể bố trí khai thác nước tập trung với quy mô lớn kể trên còn có những vùng khác như Thuỷ Biều, Vinh An, Vinh Xuân, Lộc Điền, A Lưới đều đã có những lỗ khoan thí nghiệm cho lưu lượng nước tốt, có tiền đề để khai thác.

NƯỚC KHOÁNG – NƯỚC NÓNG

Trên lãnh thổ Thừa Thiên Huế đã phát hiện, nghiên cứu đánh giá 7 nguồn nước khoáng – nước nóng, trong đó có 4 điểm ở vùng đá gốc (Thanh Tân, Hương Bình, A Roàng, Pahy) và 3 điểm ở vùng đồng bằng ven biển. Các điểm nước khoáng – nước nóng đều liên quan đến hoạt động kiến tạo, trong đó 3 nguồn nước khoáng sunfuahyđrô ở Mỹ An, Thanh Phước, Tân Mỹ rất gần cố đô Huế.

Nguồn Thanh Tân (còn có tên gọi là Phong Sơn) nằm ở xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, cách Huế khoảng 20km về phía Tây Bắc. Lần đầu tiên nguồn nước khoáng này được Saldet đề cập đến trong báo cáo khoa học vào năm 1928. Tại Thanh Tân nước được khai thác từ điểm lộ tự nhiên và lỗ khoan sâu 90m do Đoàn địa chất 708 thi công vào năm 1980. Nước khoáng Thanh Tân thuộc loại nước khoáng silic, rất nóng (nhiệt độ cao nhất 690C), trữ lượng nước tự chảy ở nguồn lộ lớn nhất là 165m3/ngày. Nước khoáng Thanh Tân đã được khai thác đóng chai giải khát với nhiều nhãn hiệu như Thiên Bình, Vietal, Vipural, Thanh Tân, trong đó nhãn hiệu Thanh Tân đã trở thành thương hiệu có uy tín trên cả nước. Tại nguồn Thanh Tân công ty cổ phần nước khoáng Thanh Tân đã xây dựng khu du lịch sinh thái đẹp, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến nghỉ ngơi thư giãn tắm ngâm phục hồi sức khoẻ. Hiện nay từ nguồn Thanh Tân nước khoáng đã được đưa về Phong An theo đường ống dẫn bằng thép không rỉ dài 12km để xử lý đóng chai giải khát và cùng với các nguyên liệu khác sản xuất các loại nước hoa quả có chất lượng tốt.

Nguồn Hương Bình (còn có tên gọi là Dương Hoà) nằm ở xã Dương Hoà huyện Hương Thuỷ. Nước xuất lộ ở bờ phải sông Tả Trạch, thuộc loại nước Clorua Natri, khoáng hoá thấp (0,87g/l), rất nóng (nhiệt độ 690c).

Nguồn A Roàng (còn có tên gọi là Tà Lài hoặc Aka) do Đoàn địa chất 206 phát hiện năm 1980 ở xã A Roàng, huyện A Lưới. Nước khoáng A Roàng có độ khoáng hoá thấp (0,34g/l), nóng vừa (nhiệt độ 500C), thành phần hoá học là Bicacbonat Natri.

Nguồn Pahy được đề cập trong báo cáo địa chất và khoáng sản tờ Hướng Hoá – Huế – Đà Năng với tên gọi là Pahy, do xuất lộ ở bờ trái suối Rào Nhỏ chảy qua thôn Pahy, xã Hồng Hạ. Nước có nhiệt độ 410C, Có mùi của H2S và có nhiều bọt khí. Trong Danh bạ nước khoáng và nước nóng Việt Nam nguồn này được đăng ký với tên là Paring. Nước khoáng Paring có thành phần hoá học là Bicacbonat Sunfat Natri – Manhe, độ khoáng hoá thấp (0,58g/l), nhiệt độ 36,90C.

Các nguồn nước khoáng Mỹ An, Thanh Phước, Tân Mỹ do Đoàn địa chất 708 phát hiện vào các năm 1979, 1980 và 1995, ở độ sâu 120 – 278m. Lưu lượng nước của nguồn Mỹ An là 18,451/s tương đương 1.590m3/ngày, của nguồn Thanh Phước 3,47l/s tương đương 300m3/ngày, của nguồn Tân Mỹ là 2,86l/s tương đương 250m3/ngày. Nước khoáng ở vùng này có thành phần hoá học là Clorua Bicacbonat Natri, độ khoáng hoá 1,7-3,66g/1, nhiệt độ 43-540C. Đây là Vùng phân bố nước khoáng sunfuahyđro, nóng vừa. Nước khoáng vùng này có tác dụng chữa bệnh tốt. Nếu dùng biện pháp tắm ngâm có thể chữa bệnh về tim mạch, khớp và ngoài da, nếu dùng biện pháp xông hơi có thể chữa bệnh đường hô hấp.

Nguồn: www.thuathienhue.gov

ve may bay hue
ve may bay hue Tour du lịch Huế trong ngày giá chỉ 250,000 VNĐ Tour Hue di Bach Ma

Hoàng Gia Hotel

Hoàng Gia Hotel tọa lạc ngay trung tâm thành phố Huế, nằm trên đại lộ Hùng Vương

Hoàng Gia Hotel tọa lạc ngay trung tâm thành phố Huế, nằm trên đại lộ Hùng Vương

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế. Tọa lạc ngay trung tâm thành phố với sân vườn thoáng mát

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế. Tọa lạc ngay trung tâm thành phố với sân vườn thoáng mát