Tư vấn du lịch Huế: Hotline: 0914.242.096 Mr Hòa

Chuyện tình ngoài chính sử của vua Gia Long

( Thứ tư 23/05/2012 | Lượt xem: 7154 )

Du Lịch Huế - ( Lịch sử Huế ) Cũng như các vị vua khác, hoàng đế Gia Long có rất nhiều cung tần mỹ nữ, nhưng nổi tiếng chỉ có ba người là Thừa Thiên cao Hoàng hậu Tống Thị Lan, Thuận Thiên cao Hoàng hậu Trần Thị Đang và Đệ Tam cung Đức phi Lê Thị Ngọc Bình.

Ngoài ra, các phi tần trong tam cung lục viện cũng được sử sách nhắc đến ít nhiều nên tưởng chừng chuyện ái tình và hôn nhân của Gia Long đều rõ ràng. Nhưng dân gian còn lưu truyền về hai mối tình của ông mà chính sử triều Nguyễn và gia phả hoàng tộc không có một dòng nào nhắc đến.

Bị bắt phải làm chồng ở cù lao Ông Chưởng

Cù lao Ông Chưởng là một địa danh nay thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, trước kia vốn được gọi bằng nhiều tên khác nhau như cồn Cây Sao, cù lao Sao Mộc, cù lao Tiêu Mộc hoặc châu Sao Mộc.

Theo sách sử, tháng 2 năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725) sai Trấn thủ Bình Khương (Nha Trang) là Nguyễn Hữu Cảnh (Kính) giữ chức Thống suất vào kinh lược vùng đất Thủy Chân Lạp, nơi mà chúa đã cho các di thần nhà Minh không chịu thần phục tân triều nhà Thanh đến đó cư trú, xin làm dân nước Việt.

Lúc bấy giờ, về mặt hành chính, Nguyễn Hữu Cảnh đã lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, đến xứ Đồng Nai lập huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên (Biên Hòa ngày nay) và lấy xứ Sài Côn làm huyện Tân Binh, dựng dinh Phiên Trấn (TP HCM ngày nay)…

Vua Gia Long thời trẻ
Vua Gia Long thời trẻ

Mỗi dinh, ông cho đặt chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để quản trị; nha thuộc có hai ty là Xá sai ty (coi việc văn án, từ tụng, dưới quyền quan Ký lục) và Lại ty (coi việc tài chính, do quan Cai bộ đứng đầu). Về quân binh thì chia làm các cơ, đội, thuyền, thủy bộ tinh binh và thuộc binh để hộ vệ.

Vừa thiết lập bộ máy quản lý, Nguyễn Hữu Cảnh còn ra sức ổn định dân tình, hoạch định cương giới xóm làng, quy tụ người bản địa và chiêu mộ lưu dân từ khắp nơi để đặt ra phường, ấp, xã, thôn gồm người Việt, Hoa, Khmer, cho khai khẩn ruộng đất, chuẩn định thuế đinh, điền và lập bộ tịch đinh điền.

Mặt khác, ông cho quân đi tiễu trừ các toán giặc cướp, sau đó đưa quân về đóng ở cồn Cây Sao rồi báo tin về Phú Xuân cho chúa Nguyễn biết. Vì lập công lớn, Nguyễn Hữu Cảnh được phong làm Chưởng Cơ, tước Lễ Thành Hầu.

Còn nhân dân khắp nơi đã thể hiện sự tri ân tôn kính của mình đối với ông, họ lập đền thờ phụng, trong ngôn ngữ hằng ngày kiêng nhắc đến chữ Cảnh, chữ Kính và nói trại đi là kiểng, kiếng và gọi một cách tôn kính là Quan Chưởng Cơ.

Danh xưng này được đặt cho một số địa danh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và đi vào ca dao, như cù lao Sao Mộc, nơi ông từng đóng quân ở đó được gọi là cù lao Ông Chưởng:

Lắng nghe quạ nói với diều
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm.

Câu ca dao này có một số dị bản, nó được gắn với một giai thoại lạ lùng về thời gian chúa Nguyễn Phúc Ánh đến nương náu tại vùng cù lao Ông Chưởng.

Theo một số sách như “Việt Nam phong tình cổ lục”, “Kho tàng giai thoại Việt Nam”…, trong những ngày đi lánh nạn, một lần chúa một mình trốn về cù lao Ông Chưởng. Vì ở nơi khác tới, để tránh tai mắt của triều Tây Sơn nên Nguyễn Phúc Ánh phải náu mình trong một bụi rậm.

Bên bờ sông, gần chỗ ông đang ẩn mình, có một cô thôn nữ trông xinh xắn đang lội bắt cá, quần áo lấm lem bùn đất mà không biết có người đang lặng nhìn theo mà tạm quên cái hoàn cảnh đau thương, thất cơ lỡ vận.

Bỗng nhiên, cô gái hét lên chới với vì bất ngờ bị thụt xuống một hố sâu. Quên ngay cả chính bản thân mình đang bị lùng bắt, bất chấp nguy hiểm, Nguyễn Phúc Ánh vụt lao ra cứu.

Thế rồi, sau khi được cứu sống, cô gái này vì cảm kích cứ... nắm rịt lấy tay ông kéo về nhà bắt... sống chung, vì theo tục lệ ở đây, khi người con gái nào đã bị người con trai ôm rồi thì buộc phải lấy người đó làm chồng.

Cuộc tình duyên bất đắc dĩ này lại là sự may mắn, mở ra một đường sống cho chúa Nguyễn, nhờ đó ông được nhà vợ giấu kín.

Đồng thời, ngày ngày, cô vợ và những người thân một mặt bắt tôm cá, mua thóc gạo về nuôi vị chúa lỡ vận; mặt khác họ đi thăm dò, tìm kiếm giúp ông các cận thần đang lưu tán để tụ họp lại, bàn mưu tiếp tục sự nghiệp “phục quốc”.

Sống ở cù lao Ông Chưởng một thời gian, Nguyễn Phúc Ánh từ biệt người vợ trẻ ra đi, tiếp tục dấn thân, bôn ba vì nghiệp lớn của mình. Nhưng sau này, khi đã lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Gia Long, nhà vua đã quên hẳn người con gái đã che chở, giúp đỡ mình năm xưa.

Dân gian trong vùng nghĩ tới chuyện đó mà ấm ức trong lòng, đặt thành câu ca dao cho trẻ hát rằng:

Quạ bay và nói với diều
Cù lao Ông Chưởng thiếu gì cá tôm.

Ngoài giai thoại nói trên, có một thuyết khác với phần kết có hậu hơn liên quan đến câu ca dao và chuyện tình của Gia Long với cô gái xứ cù lao Ông Chưởng. Chuyện kể rằng vì thua trận, Nguyễn Phúc Ánh một thân một mình trốn đến cù lao Ông Chưởng ở vùng Long Xuyên, đóng giả làm một ngư phủ để ẩn thân.

Khi chạy đến bờ sông nhưng không có thuyền, lo lắng, sợ rằng có quân Tây Sơn đuổi phía sau, trước tình cảnh đó, ông không biết làm sao, ngước lên trời một cách tuyệt vọng thì thấy một bầy quạ và diều hâu bay lượn trên không, buồn bã mà ngâm một câu thơ:

Bâng khuâng quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng lại nhiều cá tôm.

May mắn thay, lúc đó có một ngư thuyền nhỏ, theo kinh nghiệm thấy khúc sông nào có nhiều chim bay lượn ắt có nhiều cá, liền tìm đến thả lưới đánh bắt. Nhờ chủ nhân của chiếc thuyền ấy mà Nguyễn Phúc Ánh được quá giang qua sông để thoát nạn.

Khi đến giữa sông, bỗng mọi người nghe thấy có tiếng kêu cứu của một cô gái đi trên chiếc xuồng vì gặp dòng nước mạnh nên bị lật.

Vừa thoát khỏi hiểm nguy, lại gặp ngay người trong cảnh cận kề cái chết, Nguyễn Phúc Ánh can đảm lội lại gần xuồng cứu thiếu nữ. Cô gái đó tên là Trần Thị Tố Lan, con một nhà Nho trong vùng tên là Trần Đạt.

Cảm ngộ ơn cứu mạng, Tố Lan đã đưa Phúc Ánh về nhà đãi đằng tạ ơn. Gia đình cô khi biết ân nhân chỉ có một mình mới đề nghị gả Tố Lan cho ông làm vợ. Nghĩ rằng chuyện xảy ra có lẽ là duyên trời sắp đặt, định trước; lúc ấy lại độc thân nên Nguyễn Phúc Ánh bằng lòng.

 Tượng Giám mục Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh
Tượng Giám mục Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cải

Thế là một đám cưới được tổ chức tại cù lao Ông Chưởng giữa chúa Nguyễn thất thế với cô gái thường dân có cái tên rất đẹp - Tố Lan.

Sau khi phục quốc thành công, thu giang sơn về một mối và trở thành hoàng đế, Gia Long Nguyễn Phúc Ánh cho rước bà Tố Lan về kinh đô, phong làm Chánh hậu. Ông còn làm hai bài thi nói về đế hệ với mỗi chữ trong bài là chữ lót tên cho mỗi thế hệ.

Những người do bà Chánh hậu sinh ra gọi là dòng chính, chữ lót đặt tên cho con cháu của dòng chính là: “Mỹ Duệ Tăng Cường Tráng/ Liên Lý Phát Bội Hương/ Lịnh Nghi Hàng Tốn Thực/ Quí Vọng Biểu Khôn Ngoan”.

Còn những người con do các bà phi khác sinh ra gọi là dòng thứ, chữ lót đặt theo thứ tự là: “Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh/ Bảo Quí Định Long Trường/ Hiền Năng Kham Khế Thực/ Thế Thoại Quốc Gia Xương”.

Vì là giai thoại nên khó có thể kiểm chứng phần nào là sự thực, phần nào là hư cấu, hay toàn bộ câu chuyện đều do người đời sáng tạo nên.

Chỉ biết rằng nếu xét theo chính sử thì vua Gia Long có hai bà vợ chính, một người tên Lan (mang họ Tống) và một người họ Trần (tên Đang), có thể từ đó mà dân gian kết hợp lại, hư cấu thành một bà chính phi họ Trần tên Lan.

Còn về hai bài đế hệ thi dành cho dòng chính và dòng thứ, chắc là dựa vào sử sách mà chép thành vì vào năm Quý Mùi (1823), vua Minh Mạng đã làm một bài Đế hệ thi dành cho con cháu ông và 10 bài Phiên hệ thi dành cho con cháu 10 anh em trai của mình.

Bài đế hệ dành cho dòng chính trong giai thoại nói trên thực ra là bài Phiên hệ thi thứ nhất gọi là Anh Duệ hệ (dành cho con cháu Hoàng tử Cảnh, anh trai vua Minh Mạng) nhưng chỉ khác một số chữ là Lý (thực ra là Huy), Hàng (Hàm), Thực (Thuận), Qúy (Vỹ), Ngoan (Quang).

Bài thi dòng thứ mà giai thoại nhắc đến thực ra lại là bài Đế hệ thi của vua Minh Mạng để cho con cháu, nó khác một vài chữ là Hường (đúng là Hồng), Khế (Kế), Thực (Thuật).

Câu chuyện buồn trên quần đảo Côn Lôn

 Miếu thờ bà Phi Yến và hoàng tử Cải
Miếu thờ bà Phi Yến và hoàng tử Cải

Trước khi giành thắng lợi trong cuộc chiến với triều Tây Sơn, lên ngôi xưng, đế lập ra nhà Nguyễn, Gia Long bấy giờ chỉ là Nguyễn vương Phúc Ánh đã phải bao phen bôn ba "tẩu quốc", chạy trốn khỏi sự truy bắt của đối phương, nếm trải muôn vàn đắng cay, khổ cực suốt 24 năm trời.

Năm Quý Mão (1783), bị Tây Sơn đánh đuổi, phải lẩn tránh ra các hải đảo ở vùng biển Đông Nam, Tây Nam, cuối cùng Nguyễn Phúc Ánh quyết định nhờ Giám mục Bi Nhu, tức Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) đi cầu viện người Pháp và giao một người con trai của mình đi theo để làm tin.

Sử sách cho hay đó là người con trai trưởng của ông, tên là Nguyễn Phúc Cảnh. Tuy nhiên, theo dã sử ban đầu, Nguyễn vương định giữ Phúc Cảnh ở lại để sau này nối dòng chính thống, còn người con thứ là Nguyễn Phúc Hội An sẽ theo Bá Đa Lộc đi sang Pháp.

Tuy nhiên, dự định đó không thành vì đã xảy ra một việc ngoài tính toán của Nguyễn Phúc Ánh, kết cục dẫn tới một bi kịch đau buồn mà ngày nay còn đọng mãi trong câu câu hát ru:

"Ầu ơ... gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay..."

Chuyện kể rằng, khi bị quân Tây Sơn đánh bại, Nguyễn Phúc Ánh phải dùng thuyền chạy trốn ra Côn Đảo (một đảo lớn trong quần đảo Côn Lôn, còn gọi là Côn Sơn), gia quyến bị thất tán hết, chỉ có một người vợ thứ là Lê Thị Răm, hiệu là Phi Yến đi theo, bề tôi hầu cận cũng chẳng có mấy, chỉ còn khoảng 100 gia đình thuộc hạ đi cùng.

Để có chốn dung thân ổn định, Nguyễn Phúc Ánh đã sai người đi chiêu tập dân chài đang sinh sống rải rác quanh Côn Sơn rồi lập nên 3 làng An Hải, An Hội và Cỏ Ống.

Khi nghĩ đến việc đánh lại quân Tây Sơn, chúa Nguyễn thấy thế lực của mình không đủ sức, bèn cùng cận thần tính kế. Giám mục Bá Đa Lộc đề xuất đưa con của bà Phi Yến là Hội An (còn gọi là hoàng tử Cải hay hoàng tử Hiệp) theo mình mang ấn tín, quốc thư xin cầu viện nước Pháp.

Vốn là con nhà trâm anh, khuê các có học hành, khi biết được việc đó, bà Phi Yến cho rằng cầu viện người Tây Dương về giúp đánh đuổi Tây Sơn khác nào "đưa sói cửa trước, rước hùm cửa sau" nên hết lời khuyên nhủ, can ngăn chồng không nên làm theo cách ấy:

“Việc đánh nhau với Tây Sơn ta có thể coi như việc trong nhà, chúa công nên dung nghĩa binh trong nước thì hơn. Nếu nhờ sức mạnh của người ngoài để giải quyết vấn đề nội bộ thì dù ta có thắng Tây Sơn chăng nữa, cái thắng ấy cũng chẳng vẻ vang gì, thiếp e còn có lắm điều rắc rối, tai tiếng về sau”.

Không những không nghe lời khuyên của vợ mà Nguyễn Phúc Ánh còn đùng đùng nổi giận, nghi bà có ẩn ý thông đồng với quân Tây Sơn, mới sai người đem ra chém đầu.

Không run sợ trước cái chết, bà Phi Yến vẫn không đồng ý cho hoàng tử Cải đi làm con tin, không chấp nhận việc cầu viện để rồi sau sẽ bị lên án tội: “Cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mả tổ”. Người dân Côn Đảo còn truyền nhau câu thơ về chuyện này như sau:

Chuyện xưa nay kể lại rằng
Đức Bà Phi Yến khuyên can, ngăn chồng
Chuyện nhà chuyện nước đàng trong
Chúa công xem lại hận lòng quốc gia

Mang tiếng:
Cõng rắn về cắn gà nhà
Cầu vinh bán nước… thiếp e là về sau
Chỉ có mấy lời khuyên ấy!

Nguyễn Ánh nổi giận lôi đình
Nghi Bà Phi Yến cố tình nội công
Truyền cho văn võ triều đình
Đưa Bà Phi Yến hành hình tại đây.

Quần thần hoảng sợ trước sự tức giận đó, tất cả đều cùng quỳ xin nhờ vậy mà Phi Yến thoát khỏi bị chém đầu. Nhưng Nguyễn vương vẫn chưa nguôi lòng, ông sai lính đưa người vợ trẻ của mình ra một hòn đảo hoang gần đó nhốt vào hang đá (hòn đảo đó về sau được gọi là Hòn Bà).

Cửa hang bị bịt bằng nhiều tảng đá, còn bà Phi Yến bị nhốt bên trong chỉ với ít cơm gạo và một chum nước. May mắn là có con vượn bạch mà bà đã nuôi dưỡng từ trước khôn ngoan, thông minh, ở ngoài hang, ngày ngày vào rừng đi tìm trái cây, quả chín về nuôi chủ.

Khi nghe tin thuyền chiến của Tây Sơn sắp đánh ra đảo, chúa Nguyễn Phúc Ánh sợ hãi mang theo hoàng tử Cải rồi cùng bề tôi xuống thuyền chạy về hướng đảo Phú Quốc. Hoàng tử lúc đó mới 5 tuổi, không thấy mẹ mới khóc thảm thiết, đòi cho mẹ đi cùng.

Trong cơn hoảng hốt lại tức giận, Nguyễn vương cho rằng con mình cũng một lòng phản trắc như vợ nên đã ném con xuống biển rồi thúc thuyền chạy thẳng.

Bấy giờ, có con hắc hổ mà hoàng tử Cải nuôi luôn đi theo nửa bước chẳng rời, thấy chủ bị ném liền lao theo xuống nước nhưng nước chảy mạnh, hoàng tử bị chết chìm, còn hắc hổ bơi được vào bãi cạn.

Đến khi thủy triều rút, thấy thi hài hoàng tử trôi vào bãi biển làng Cỏ Ống, hắc hổ tha vào rồi bới đất đem chôn tại khu rừng gần bãi Đầm Trầu. Người dân biết tin rất thương tiếc, mới cùng nhau lập ngôi miếu trước mộ hoàng tử để thờ gọi là miếu Cậu, ngôi mộ được gọi là mả Cậu.

Truyền thuyết kể rằng con hắc hổ ngày vào rừng kiếm ăn, đêm về nằm bên mộ chủ kêu gào thảm thiết. Rồi một đêm, hắc hổ tìm được vượn trắng, chúng cứu bà Phi Yến ra khỏi hang rồi đưa được bà đến mộ hoàng tử Cải.

Đau xót, cảm thông trước tình cảnh ấy, dân làng Cỏ Ống làm một ngôi nhà gần mộ đó để bà Phi Yến sớm hôm chăm sóc ngôi mộ đứa con bạc mệnh của mình, rồi họ đặt câu hát rằng:

“Gió đưa cây Cải về trời
Rau Răm ở lại chịu đời đắng cay"

Do nỗi nhớ con, nỗi đau cho vận nước nên Phi Yến ngày càng héo hon, buồn bã. Bà đã làm nên bài thơ để bày tỏ tâm sự của mình:

“Đốt nén hương thề tạ chúa công
Can vua nên nỗi tội thông đồng
Ngai vàng một thuở ngồi chưa vững
Bia đá ngàn năm vết vẫn còn

Máu chảy ruột mềm đau phận thiếp
Nồi da xáo thịt thỏa tình ông
Song sầu, núi thảm hoa mờ lệ
Đã khóc cho con lại khóc chồng”.

Một hôm, làng An Hải cùng làng Cỏ Ống tổ chức cuộc đàn chay khá lớn có thỉnh mời bà Phi Yến đến dự. Có một tên đồ tể người làng An Hải là Biện Thi thấy Đức bà Phi Yến tuổi mới 25, dù trải bao khổ đau mà nhan sắc vẫn rực rỡ, tươi thắm, hắn nổi lòng tà dục, lẻn vào chỗ bà, nắm một cánh tay giở trò đồi bại thì bị phát hiện.

Con chết, chồng lưu vong không rõ tin tức, bà Phi Yến đã phải chịu nhiều đau khổ, nay cảm thấy hổ thẹn và nhục nhã vì bị xúc phạm thân thể nên đã dùng gươm chặt đứt cánh tay, sau đó tự tử để thủ tiết và giữ danh giá của mình.

Tức giận trước hành động của tên vô lại, người dân đã đem tên Biện Thi ra xử tội chết, còn thi hài bà Phi Yến được đem an táng bên cạnh mộ của con trai. Thương cảm số phận của một bà hoàng, hai làng An Hải, Cỏ Ống đã lập miếu thờ gọi là miếu Bà (tên khác là miếu An Sơn), được xây từ năm Ất Tị (1785).

Tương truyền bà Phi Yến cùng hoàng tử Cải thường hiển thánh hiện về mách bảo điềm lành, chuyện dữ sắp xảy ra nên người ta cho rằng miếu này rất linh thiêng với người dân trên đảo, lúc nào miếu cũng nghi ngút khói hương thờ phụng.

Các bậc kỳ lão và cư dân tại Côn Đảo còn truyền tụng 4 câu thơ mà người xưa đã đề tặng tấm lòng trung liệt của bà Phi Yến như sau:

“Lòng đất chôn sâu niềm uất hận
Lưng trời đeo mãi vết tang thương
Thương người cương trực liều thân thể
Trách kẻ tà dâm dạ khó lường”.

Theo chính sử triều Nguyễn và sách Nguyễn Phúc tộc thế phả thì vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh có tất cả 21 người vợ, 13 hoàng tử và 18 hoàng nữ.

Nhưng cũng giống như trường hợp của bà Trần Thị Tố Lan, các tài liệu này không thấy có dòng nào ghi họ tên, lai lịch của bà Phi Yến (Lê Thị Răm) và hoàng tử Hội An (hay hoàng tử Cải) cả.

Một số ý kiến cho rằng đây chỉ là sự tưởng tượng, hư cấu của người đời chứ thực ra không có nhân vật Phi Yến và Hội An, chúa Nguyễn Phúc Ánh cũng chưa từng đặt chân đến đảo Côn Lôn mà hòn đảo đó là đảo Cổ Long (Koh Kong) nằm gần vùng biển Hà Tiên, cách đảo Phú Quốc không xa, do phiên âm Koh Kong sang Hán tự có sự nhầm lẫn mà thành Côn Lôn.

Còn  ngôi miếu An Sơn (miếu Bà) vốn là nơi thờ nữ thần bảo trợ cư dân miền biển và hải đảo thường được tôn kính gọi là bà Chúa Tiên hoặc bà Chúa Ngọc.

Quan điểm khác thì cho rằng miếu thờ Thủy Long Thánh Phi, một nữ thần sông nước có hai người con gọi là Cậu và Bà, và miếu Cậu chính là miếu thờ một trong hai người con của nữ thần.

Trên đây là hai giai thoại về chuyện tình của vị vua sáng lập nhà Nguyễn. Đã là giai thoại thì việc khảo chứng thật giả, đúng sai rất khó xác định bởi đó là những câu chuyện đi từ đời sống, gắn liền với những con người thực, sự kiện thực nhưng vì được truyền tải qua nhiều bước (truyền miệng, viết lại) nên được dân gian thêm bớt, phóng tác, sáng tạo những tình tiết lạ lùng, hài hước thậm chí có thể trở thành "hơi phi lý".

Theo các nhà nghiên cứu, giai thoại chính là sự bổ sung về mặt lịch sử và văn hóa chính thống, giúp chúng ta có thêm cái nhìn về con người, xã hội, sự kiện trong quá khứ theo một cách tiếp cận thú vị và hấp dẫn.

  • Lê Thái Dũng

Nguồn: phunutoday.vn

Xem thêm chủ đề: vua gia long,
ve may bay hue
ve may bay hue Tour du lịch Huế trong ngày giá chỉ 250,000 VNĐ Tour Hue di Bach Ma

Hoàng Gia Hotel

Hoàng Gia Hotel tọa lạc ngay trung tâm thành phố Huế, nằm trên đại lộ Hùng Vương

Hoàng Gia Hotel tọa lạc ngay trung tâm thành phố Huế, nằm trên đại lộ Hùng Vương

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế. Tọa lạc ngay trung tâm thành phố với sân vườn thoáng mát

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế. Tọa lạc ngay trung tâm thành phố với sân vườn thoáng mát