Tư vấn du lịch Huế: Hotline: 0914.242.096 Mr Hòa

Ý thức biển của vua Minh Mạng

( Thứ năm 31/05/2012 | Lượt xem: 2409 )

Du Lịch Huế - Cũng như các triều đại thống trị trước đây, nhà thống trị triều Nguyễn thi hành chính sách cấm nhân dân ra biển bằng hoạt động thương mại bằng pháp luật nhưng rất coi trọng và ủng hộ hoạt động hàng hải của triều đình, đặc biệt là thời vua Gia Long và Minh Mệnh.

Nhất là trước mối đe dọa của thực dân phương Tây, vua Minh Mệnh coi trọng biển và hoạt động hàng hải, ý thức biển của ông có nội dung tương đối phong phú và cũng đã có ảnh hưởng lớn đến hoạt động biển và nền tảng hàng hải thuyền buồm Việt Nam thời  phong kiến.

Đỉnh cao của nền hàng hải thuyền buồm thời phong kiến

21 năm trị vì của vua Minh Mệnh cũng có thể coi là đỉnh cao của nền hàng hải thuyền buồm, và công cuộc xây dựng hải quân thời phong kiến Việt Nam. Ông ra sức đẩy mạnh sự nghiệp hàng hải của chính phủ Việt Nam, khuyến khích đóng các loạt tàu thuyền bền chắc, xây dựng thủy quân vững mạnh, hết sức quan tâm nền an ninh cõi biển và phòng thủ biển.

Nguyên bản sắc chỉ của vua Minh Mạng thứ 15, ngày 15 tháng 4
phái đội Hải quân ra bảo vệ đảo Hoàng Sa.

Ông đã ban bố các quy chế như “tuần dương chương trình”, “tuần thuyền quy thức” và “tuần dương xử phận lệ”… nhằm mục đích chống cướp biển, trạm dương và giữ gìn an ninh cho các loạt tàu thuyền hoạt động ven biển. Sau vua Gia Long, vua Minh Mệnh tiếp tục đề xướng và ủng hộ sự nghiệp hàng hải ở hải ngoại, hầu như năm nào ông cũng cử đội thuyền triều đình hàng hải đến các nước Đông Nam Á hải đảo ở vùng “Hạ Châu”.

Ông từng cử người hàng hải đến Minh Ca (Can – cốt – đa) ở miền đông Ấn Độ vùng “tiểu Tây Dương”, hình thành hiện tượng công cán hải ngoại quy mô lớn liên tục. Theo ghi chép của Đại Nam thực lục, từ năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đến năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) vua Minh Mệnh ít nhất đã cử 30 đợt các quan viên văn võ, đi tổng cộng khoảng 60 con tàu/lượt, bọc đồng lớn nhỏ như các tàu “Phấn Bằng”, “Thụy Long”. “Định Dương”, “Binh Ba”… đến vùng Hạ Châu và Tiễn Tây Dương.

Việc trị quốc phải nhìn xa thấy rộng

Vua Minh Mệnh nói với bộ Binh rằng: “Việc trị quốc phải nhìn xa thấy rộng. Từ khi thân chính, Trẫm thường nghĩ kế lâu dài cho nước, đắp Trường thành ở Quảng Bình, xây hung quan ở Hải Vân, những nơi ven biển xung yếu như Thuận An, Tư Dung… không nơi nào không xây pháo đài, lợi dung địa thế hiểm trở của sông núi để xây đắp công sự và sắm sửa hỏa pháp Tây Dương để phòng bất trắc, quả thật là trong thời bình phải nghĩ đến thời loạn, việc đó không thể lơ là được.

Nay trăm họ no đủ, thiên hạ yên ổn. Nhưng việc quân bị đều tập trung ở kinh đô có lẽ không phải đều dùng để tăng thế mạnh cho nước, cho nên phải bố trí lại lực lượng theo kế hoạch để thiên hạ được yên ổn muôn đời. Người phải giúp Trẫm suy nghĩ về vấn đề đó.

Nếu chỉ mải mê đọc sách thì là thần thế bé nhỏ thôi, chỉ những người biết nhìn xa thấy rộng, nghĩ các trị quốc, làm vệc tận tụy thì Trẫm mới có thể gởi gắm kỳ vọng cho. Nếu trong thời bình, việc văn võ đều không phát triển, đó có phải đạo giữ yên đất nước của người xa đâu?”

Tiếp đó, vua Minh Mệnh lại nói với cận thần rằng:

“Việc trị quốc phải tôi luyện đạo đức và nghĩ đến nguy hiểm, hai điều đó đều không thể thiếu được. Nay trẫm đóng tàu bọc đồng, muốn lợi dụng những nơi xung yếu ven biển để xây dựng nhà máy, cất giữ những con tàu đó hầu lợi cho việc sử dụng khi cần.

Và nơi xung yếu thì không có nơi nào sánh bằng Ao Sơn Trà, tàu nước ngoài đến nước ta chỉ có nơi này có thể đậu được, nhưng nơi này nặng chướng khí, có hơn 10 giếng nguy hiểm. Ngay xa có tàu phương Tây đến đây tránh gió, gặp khó khăn bởi những giếng đó. Như vậy là người nước ngoài dù muốn dòm ngó nhưng cũng không cách nào đối phó được, huống chi là ta có thể nhân địa thế hiểm trở đó để phòng thủ bằng tàu thuyền.

Vả lại, địa hình nước ta vùng Gia Định thì sông ngòi chi chít, miền Bắc thì đồng bằng bao la, đều không có địa hình hiểm trở để làm chỗ dựa. Vùng Bình Định địa thế tốt hơn, nhưng quá hẹp; Vùng Quảng Nam thì sông và núi đều có lợi, nhưng hơi lệch; đến vùng Quảng Bình, Thanh Hóa đều không nơi nào sánh bằng Phú Xuân. Thế đất cao mà sáng sủa, núi sông bằng phẳng, đường thủy có Thuận An, Tư Dung, đường bộ có Quảng Bình, Hải Vân là nơi hiểm trở, phía trước có sông, bên phải có núi, thật là địa thế rồng cuộn hổ ngồi, thế hung hình mạnh, thật là nơi trời ban cho chúng ta để định đô ở đấy và xây dựng cơ ngơi cho con cháu muôn đời.

Có người nói đất kinh đô cặn cụi, cây cối um tùm. Nhưng nơi đó tựa lựng vào núi, trông ra biển cả, tài nguyên gỗ và cá dồi dào không thể dùng hết được, các nơi khác không thể sánh kịp. Huống chi nơi đô thành chịu ơn ta đã lâu, Trẫm lại giảm tô thuế cho dân thì đô thành được ưu tiên, đời sống của nhân dân há chẳng ngày càng giàu lên sao? Nơi đây thật là nơi đóng đô tốt nhất của nhà vua, muôn đời không thể thay đổi được”. (1)

Trừ những lời khoe khoang, lời dẫn trên đây đã phản ánh tâm trạng mâu thuẫn của vua Minh Mệnh đối với Việt Nam dưới sự thống trị của ông. Một mặt là sự hài lòng về cảnh thanh bình của mảnh đất thân yêu và kinh đô Huế “rồng cuộn hổ ngồi, địa thế hung mạnh”, suy nghĩ về việc lợi dụng địa thế hiểm trở của bờ cõi và sông núi để xây thành trì và pháp đài, đóng tàu bọc đồng, chuẩn bị xây dựng bến cảng quân dụng, sửa sang quận bị để bảo vệ an ninh của triều Nguyễn.

Mặt khác, ông lại hết sức lo lắng trước mối đe dọa từ nước ngoài và về tương lai của Việt Nam, nên ông đã coi cửa Thuận An, Tư Dung là nơi xung yếu, giữ gìn cảnh giác cao đối với những tàu phương Tây, áp dụng nhiều biện pháp để phòng ngự khi cần. Sự quan tâm theo dõi về biển và phòng ngự biển đã được phản ánh rõ nét trong đó.

Những lời nói và chính sách của vua Minh Mệnh đã phản ánh ý thức về biển của ông, nội dung chính là: 1. Coi trọng tăng cường quân bị, xây dựng lực lượng hải quân, có tư tưởng quân sự “lấy thủy quân làm trọng” và lòng tự hào về “thủy quân”.

Năm Gia Long thứ 8 (1809), nước Xiêm giao chiến với Miến Điện, khi nước Xiêm xin nhà Nguyễn xuất quân thủy bộ để viện trợ, vua Gia Long từng lấy làm hãnh diện mà nói rằng: “Thủy quân của ta thì luôn luyện tập, nếu được sử dụng trong biển thì rất tiện…” (2).

Vua Minh Mệnh cho rằng: “Binh có thể không sử dụng trong trăm năm, nhưng không thể không chuẩn bị trong một ngày” (3). Và trong xây dựng quân đội, cùng như vua Gia Long, vua Minh Mệnh rất coi trọng xây dựng hải quân.

Ông nhấn mạnh, Việt Nam “dựng nước trong vùng khí hậu nóng, phần lớn đất đai ven biển, thủy quân là quan trọng nhất, nên luyện tập để thuộc diện hàng hải, khi có việc mới tiện sử dụng” (4).

Vua Minh Mệnh tỏ ra rất hài lòng về việc chúa Nguyễn và triều Nguyễn phát triển hải quân, sử dụng hải quân quen thuộc và hiệu quả trong chiến đấu, rất tán thưởng về những sở trường của thủy quân Việt Nam. Với những ý thức và tư tưởng đó, khi ông thấy những con tàu bọc đồng đóng xong, ông cảm thấy “thật sự tự tin” và hầu hết mọi năm ông đều cử tàu thuyền và binh lính hải quân ra nước ngoài để tập luyện và làm quen với những con đường hàng hải.

Ý thức coi trọng hải quân của vua Minh Mệnh cũng được thể hiện trong hình vẽ về chiếc vạc Cửu Đỉnh được đúc năm 1836, rồi cất giấu trong hoàng cung Huế. Những hình vẽ phản ánh về lực lượng quân sự trên vạc Cửu Đỉnh chủ yếu là hỏa khí và tàu thuyền, những hình vẽ về tàu thuyền chủ yếu bao gồm các tàu thuyền trên biển.

Để đối phó với bọn cướp biển, vua Minh Mệnh còn đích thân chỉ đạo xây dựng kế hoạch đóng loại tàu tuần dương cỡ vừa giữa tàu bọc đồng lớn và tàu Ô Lê nhỏ và nhanh nhẹn, có khả năng tấn công. Điều đáng chú ý là vua Minh Mệnh cũng đã ý thức được những bất cập của hải quên triều Nguyễn và chiến pháp của nó, yêu cầu các đại thần học tập chiến thuật đánh thủy của Anh và Mỹ.

Qua những bản báo cáo của các phái viên từ nước ngoài về, vua Minh Mệnh được biết: “Trong các nước phương Tây chỉ có nước Xích Mao và Ma Li Căn giỏi thủy chiến, tàu của họ hoặc thuận chiều gió, hoặc ngược chiều gió, đều rất nhanh nhẹn… thật đáng để học tập” (5). Vua Minh Mệnh còn yêu cầu Binh bộ thượng thư Trương Đăng Quế đi tham quan đội hình thủy chiến của các nước phương Tây và “tham khảo lẫn nhau để lấy làm biện pháp tập luyện của hải quân” (6).

Chú thích:

(1) Đại Nam thực lúc, kỷ II, Q.53, tr.2138

(2) Đại Nam thực lục, chính biển, kỷ I, Q.38

(3) Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn – Minh Mênh chính yếu, Q.14, Sài Gòn, bản chụp năm 1972, tr.19

(4) Đại Nam thực lục, chính biên, kỷ II, Q.156, tr.3694

(5) Minh Mệnh chính yếu, Q.14, tr.38

(6) Đại Nam thực lục, chính biên, kỷ II, Q.206, tr.4478

Theo Vu Hướng Đông, Giám đốc Sở Nghiên cứu Việt Nam – Trường Đại học Trịnh Châu Trung Quốc (Tap chí Xưa và Nay tháng 11/2009)

Nguồn:

ve may bay hue
ve may bay hue Tour du lịch Huế trong ngày giá chỉ 250,000 VNĐ Tour Hue di Bach Ma

Hoàng Gia Hotel

Hoàng Gia Hotel tọa lạc ngay trung tâm thành phố Huế, nằm trên đại lộ Hùng Vương

Hoàng Gia Hotel tọa lạc ngay trung tâm thành phố Huế, nằm trên đại lộ Hùng Vương

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế. Tọa lạc ngay trung tâm thành phố với sân vườn thoáng mát

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế. Tọa lạc ngay trung tâm thành phố với sân vườn thoáng mát