Tư vấn du lịch Huế: Hotline: 0914.242.096 Mr Hòa

Trấn Hải Thành

( Thứ bảy 28/07/2012 | Lượt xem: 3268 )

Du Lịch Huế - Trấn Hải thành là một thành lũy được xây dựng ở cửa biển Thuận An, dùng để bảo vệ cho cửa ngỏ phía đông của Kinh đô triều Nguyễn. Nó nằm cách Kinh thành Huế khoảng 10km đường sông và hơn 13km đường bộ.

Từ thời xa xưa cho đến đầu thế kỷ XIX, của biển này đã được gọi là cửa Eo (các sử sách ghi là Yêu Hải môn). Mặc dù cửa biển này đã được di chuyển đến vị trí khác cách đó hơn 4km về phía tây bắc vào đầu thế kỷ XX, tòa thành lũy vẫn còn nằm yên tại chỗ và còn tương đối nguyên vẹn.

Cửa Eo, nơi sông Hương đổ nước ra biển, đã từng được xem là một vị trí chiến lược xung yếu của vùng Huế ngay từ thời nhà Hồ (1400-1407), qua thời Hậu Lê (1428-1789), đến thời Tây Sơn (1788-1801). Sau khi thống nhất đất nước vào đầu nước vào thế kỷ XIX và chọn Huế để xây dựng Kinh đô, vua Gia Long thấy vị thế cửa Eo càng trở nên xung yếu hơn. Bởi vậy, vào năm 1813, nhà vua đã cho xây dựng ở bờ bắc của cửa biển này một tòa thành lũy gọi là Trấn Hải đài và cho đổi tên cửa Eo thành cửa biển Thuận An với hàm ý cầu mong trời yên biển lặng. Đến năm 1834, vua Minh Mạng cho đổi tên Trấn Hải đài ra Trấn Hải thành. Dù là “đài” hay là “thành”, công trình kiến trúc này cũng có hai nhiệm vụ chính, là phòng thủ về mặt biển để bảo vệ Kinh đô, và kiểm soát, điều khiển mọi loại tàu thuyền trong nước và nước ngoài ra vào cửa biển.

Tòa thành lũy này cũng được xây dựng theo kiểu Vauban. Vì Trấn Hải thành nằm sát bên bờ biển, cho nên, mặt bằng của nó đã được thiết kế theo dạng hình tròn. Nếu có hải triều dâng lên và sóng lớn đánh vào thành thì thành khó bị sạt lở và sụp đổ. Thành đươc xây bằng gạch vồ và trát vữa vôi rất chắc chắn. Vòng thành có chu vi 302,04m, đường kính khoảng 100m, cao 4,40m, dày 12,60m. Thành có hai cửa: cửa chính ở mặt trước và cửa phụ ở mặt sau. Nhìn về hướng nam, cửa chính cao 2,60m, rộng 2,16m. Quanh trên thành có bố trí 99 ụ súng. Dọc theo ngoài chân thành là hệ thống hào rộng 9,04m và sâu 2,40m.

Đại thần Nguyễn Đức Xuyên được giao nhiệm vụ đứng ra điều khiển công tác xây dựng tòa thành lũy này. Việc thi công kéo dài khoảng một năm thì hoàn tất. Nhung, khi vừa xây xong thì đoạn bờ biển ở gần đó bị sóng lớn đánh vào làm cho nó bị xói lở đến tận chân thành, cho nên triều đình Gia Long quyết định đóng cọc gỗ và xây kè đá ở bờ biển để chống sự xâm thực và trồng 4.000 cây dừa ở quanh ngoài thành để ngăn không cho sóng to gió lớn xói mòn đất cát.

Qua thời Minh Mạng, vào những năm 1820,1826,1830 và 1831, thành này được gia cố bằng cách cắm thêm nhiều cọc gỗ xuống bờ biển và đổ thêm đá xuống đó để ngăn sóng. Năm 1834, triều đình cho xây thêm trong thành một tòa nhà cao, gọi tên là lầu Quan Hải, để nhìn ra biển cho rõ hơn, và cấp ống thiên lý (ống nhòm) để theo dõi tàu bè qua lại ngoài biển khơi; còn chung quanh thành thì trồng thêm 9.000 cây dừa để chống xâm thực.

Nhưng, sau đó 5 năm, bờ đá kè gần chân thành bị sóng lớn đánh mạnh làm cho nó bị sụt lở trầm trọng. Đứng trước tình trạng nguy hiểm ấy, quan quân đồn trú tại đây đề nghị triều đình nên dời thành vào xây ở một vị trí khác nằm sâu hơn trong vùng đất Thuận An. Nghe thế, vua Minh Mạng nói rằng: ”Tránh nước cũng như tránh giặc, nếu ta lui một bước thì giặc sẽ tới một bước, không phải là việc hay”. Nhà vua liền ra lệnh gia cố lại bằng cọc gỗ lim và kè thêm đá.

Vua Minh Mạng nhận thấy cửa Thuận An và thành Trấn Hải có giá trị về nhiều phương diện, cho nên, khi đúc Cửu đỉnh vào năm 1836, nhà vua đã cho thể hiện hình ảnh “Thuận An hải khẩu”, trong đó có thành Trấn Hải, ở Nghị đỉnh.

Năm 1840, triều đình cho treo trên lầu Quan Hải một cái đèn lồng đường kính khoảng 3m, xem như là ngọn hải đăng, thắp sáng hàng đêm để ghe thuyền ngoài biển nhận biết cửa khẩu mà vào.

Năm 1842, vua Thiệu Trị (1841-1847) cho 300 biền binh về đó để gia cố những chỗ kè đá bị sóng đánh sạt lở. Nhà vua cho rằng thành Trấn Hải nói riêng, phong cảnh cửa biển ở đó nói chung, trông vừa hùng tráng, vừa thơ mộng, cho nên đã “xếp hạng” kiến trúc và thiên nhiên ở đây là một trong 20 thắng cảnh của đất Thần kinh (Thần kinh nhị thập cảnh) và đã làm nhiều bài thơ để ca ngợi.

Năm 1847, sau khi xảy ra một trận hải chiến giữa Pháp và quân ta tại Đà Nẵng, vua Thiệu Trị “thấy cần phải cảnh giác thận trọng, cho nên xây thêm một cái thành ở đồi cát Hòa Duân nằm đối diện bên kia bờ cửa biển [Thuận An] để hai bên yểm trợ cho nhau...”.
Đến năm 1858, dưới thời Tự Đức (1848-1883), Pháp lại tấn công Đà Nẵng. Triều đình cho củng cố lại các đồn lũy ở Thuận An cũng như ở làng Hòa Duân, và xây dựng thêm một loạt đồn bót ở những địa điểm lân cận, như Cồn Sơn, Hạp Châu, Lộ Châu (Tân Mỹ), Qui Lai, Thuận Hòa, v.v.. Rồi triều đình giao cho hai đại thần Trần Tiễn Thành và Nguyễn Như Thăng đứng ra điều khiển việc đem xích sắt và dây sắt ra chắn ngang cửa biển Thuận An để đề phòng tàu Pháp đột nhập vào phá Tam Giang và sông Hương. Sau đó, vua Tự Đức còn tăng cường cho thành Trấn Hải và các đồn bót lân cận thêm nhiều binh sĩ và vũ khí đạn dược, trong đó có rất nhiều khẩu súng thần công cỡ lớn.

Dưới thời Gia Long, chỉ có khoảng 150 binh sĩ đồn trú tại thành Trấn Hải. Nhưng đến thời Tự Đức thì “số binh lính hùng mạnh đồn trú ở đó lên đến hơn mấy nghìn người”. Có lẽ con số nhà cửa và trại quân ở bên trong và bên ngoài thành Trấn Hải phải lên đến hàng chục tòa khác nhau.

Sau khi thành Trấn Hải được xây dựng, các vua đầu nhà Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức hầu như năm nào cũng về đây để kiểm soát lại sự bố phòng và duyệt khán thủy quân của triều đình tập trận hải chiến. Có một lần đứng trên thành Trấn Hải vào năm 1830, vua Minh Mạng sau khi quan sát một lượt chung quanh, đã nói rằng: “Mấy năm nay cửa biển này mỗi ngày một sâu, 2 bờ cát bồi lên ôm lấy bên tả bên hữu, lại có pháo đài phòng giữ, thời phía ngoài dù có tàu thuyền hàng nghìn cũng không làm gì được, thật là thành bằng đồng và hào chứa nước sôi cho Kinh sư vậy”.

Nhưng, như lịch sử đã cho thấy, nhận định của vua Minh Mạng cho rằng đây là “kim thành thang trì” là một nhận định chủ quan. Đến thời Tự Đức, mặc dù các đồn bót ở vùng Thuận An đã được bố trí dày đặc, có hệ thống và tăng cường quân số lên rất nhiều, nhưng toàn bộ cụm tiền đồn này của Kinh đô Huế, kể cả thành Trấn Hải, vẫn còn trong trình độ bố phòng và tác chiến bằng gươm giáo thô sơ và súng đạn lạc hậu của một nước Á Đông chậm tiến. Cho nên, một khi nó đụng phải sức mạng quân sự tinh xảo của Tây phương thì sẽ không thể đương đầu nổi. Cụ thể là vụ Pháp đánh chiếm cửa biển Thuận An vào năm 1883 đã làm cho thành Trấn Hải và các đồn bót lân cận bị thất thủ một cách dễ dàng, mặc dù tinh thần kháng cự của các tướng sĩ ta bấy giờ rất cao, khiến cho địch cũng phải thán phục.

Thật vậy, từ ngày 18 đến 20-8-1883, dưới thời vua Hiệp Hòa, lực lượng thực dân Pháp với 7 tàu chiến và 1.050 quân đã tấn công vào thành Trấn Hải và các đồn bót chung quanh để uy hiếp triều đình Huế. Hàng ngàn quân sĩ của ta đồn trú tại đó đã kiên cường chiến đấu suốt 3 ngày đêm, nhưng vì trình độ vũ khí và chiến thuật giữa đôi bên quá chênh lệch, cho nên, cuối cùng, thành mất. Các tướng Lê Sĩ, Lê Chuẩn, Lâm Hoằng, Nguyễn Trung và đại thần Trần Thúc Nhẫn cùng hàng ngàn quân dân ở vùng Thuận An đã phải hy sinh đền nợ nước.

Cuộc kháng cự một mất một còn này đã được tái hiện khá rõ trong các tư liệu lịch sử và trong bài vè “Thất thủ Thuận An” dài 522 câu. Chính viên chỉ huy trưởng của một trong 7 tàu chiến Pháp lâm trận là Picard Destelan cũng đã ca ngợi tinh thần quyết tử bất khuất của quân ta: “Các pháo thủ đã chết trên các khẩu pháo của họ, họ là những người dũng cảm... Họ nằm xuống và cát vùi họ vào lòng đất ở sau những khầu đại bác làm cho họ trở nên tuyệt vời...”.

Cuộc đề kháng bi hùng ấy của quân ta tuy chẳng thành công, nhưng vẫn từng gây xúc động cho biết bao tâm hồn hậu thế.
Khoảng 60 năm sau thời điểm xảy ra sự kiện đau thương ấy, Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn (1900-1947) trong một dịp về Thuận An để nhìn lại bãi chiến trường xưa, đã bày tỏ sự ngậm ngùi qua bài thơ “Thuận An hoài cổ”, trong đó có những câu:

“Khẩu súng Hải đài rêu bít miệng,
Hồn oan chiến sĩ sóng nhoi đầu.
Ngự đề tám cảnh còn đâu đó,
Một cảnh nhìn ra một cảnh đau”.

Trong một lần “dạo chơi miền cửa Thuận”, một thi nhân nổi tiếng của xứ Huế là Ưng Bình Thúc Dạ Thị (1877-1961) cũng đã có cùng tâm trạng và đã để lại những câu thơ đầy cảm khái:

“Trước dinh quan Tướng không quân sĩ,
Trong điện bà Giàng có lửa hương.
Gượng gạo bước lên đài Trấn Hải,
Bâng khuân ngó lại bãi sa trường”.

Mặc dù đã trải qua những biến động lịch sử và địa lý rất dữ dội trong gần 2 thế kỷ, Trấn Hải thành vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Nó đang mang trên mình những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc. Cho nên, Trấn Hải thành đã được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia vào năm 1998, và ngay từ năm 1993, đã trở thành một bộ phận trong Quần thể Di tích Huế, Di sản Thế giới.
Cho hay, dù thành cao hào sâu và được phòng vệ với thiên binh vạn mã, nhưng nếu các chủ nhân của nó không bắt kịp sự tiến bộ về vũ khí và chiến lượt trên thế giới, thì chẳng những thành bị hạ, nhân mạng bị tổn thất, mà chủ quyền của dân tộc cũng không còn. Âu đó cũng là một bài học lịch sử.

Nguồn: Phan Thuận An

ve may bay hue
ve may bay hue Tour du lịch Huế trong ngày giá chỉ 250,000 VNĐ Tour Hue di Bach Ma

Hoàng Gia Hotel

Hoàng Gia Hotel tọa lạc ngay trung tâm thành phố Huế, nằm trên đại lộ Hùng Vương

Hoàng Gia Hotel tọa lạc ngay trung tâm thành phố Huế, nằm trên đại lộ Hùng Vương

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế. Tọa lạc ngay trung tâm thành phố với sân vườn thoáng mát

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế. Tọa lạc ngay trung tâm thành phố với sân vườn thoáng mát