Tư vấn du lịch Huế: Hotline: 0914.242.096 Mr Hòa

Chuyện tình của cố Bộ trưởng Đoàn Trọng Truyến và tiểu thư Huế

( Thứ sáu 24/08/2012 | Lượt xem: 1461 )

Du Lịch Huế - Năm 1993, khi làm lễ kỷ niệm đám cưới vàng sau 50 năm chung sống, được nghe lại bản “Serenade” của Schubert, Bộ trưởng Đoàn Trọng Truyến đã ôm người vợ hiền của mình vào lòng, cố giấu đi những giọt nước mắt xúc động.

Cái lần đầu tiên kéo violon để tỏ tình với bà bằng bản “serenade” bất hủ ấy, ông mới 17 tuổi; khi đám cưới vàng diễn ra, ngồi bên cạnh vợ, ông đã là một ông lão 72, nhưng ông vẫn thấy lòng mình vẹn nguyên cảm xúc như thời trai trẻ.

Với ông, bản “serenade” mà nhờ đó ông đã có được tình yêu của bà, là bản nhạc định mệnh của cả đời ông - bản nhạc đã đưa ông đến với mọi điều tốt đẹp nhất mà ông có được trong cuộc đời mình.

Lời tỏ tình lặng lẽ

Có nhiều điều mà một nhà báo như tôi có thể nói khi viết về cuộc đời cố GS - NGND Đoàn Trọng Truyến, nguyên Bộ trưởng, Tổng Thư ký Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng:

Ông là một nhà khoa học, một nhà chính trị và là cha đẻ của nguyên Bộ trưởng Văn phòng Chính phủ Đoàn Mạnh Giao… Nhưng trong bài viết này, tôi chỉ xin được viết về câu chuyện tình của vợ chồng ông, câu chuyện tình khiến một kẻ hậu thế như tôi sau khi nghe xong vẫn chưa nguôi được nỗi  xúc động.

Bộ trưởng Đoàn Trọng Truyến sinh năm 1922, trong một gia đình nhà Nho xứ Huế. Nhà nghèo nhưng thông minh, hiếu học, người thanh niên Đoàn Trọng Truyến là một trong những học sinh xuất sắc của trường Quốc học Huế.
 

Gia đình hạnh phúc của cố Bộ trưởng Đoàn Trọng Truyến.

Thấy ông nhà nghèo, nhưng học hỏi, có chí, kỹ sư cầu đường Nguyễn Văn Kiểm đã mời ông về làm gia sư cho người cháu gái Nguyễn Thị Kim Sa. Bà Kim Sa vốn là con gái một gia đình khá giả ở nông thôn. Bà được người chú ruột Nguyễn Văn Kiểm yêu quý, nhận làm con nuôi, cho ra học tại trường Đồng Khánh.

Ngày trẻ, Đoàn Trọng Truyến gầy guộc, đen nhẻm và có biệt danh là “Truyến đen”. Nhưng trí tuệ của ông và nghị lực phi thường của cậu học trò nghèo vượt khó trong ông đã khiến ông lọt vào mắt xanh cô tiểu thư Nguyễn Thị Kim Sa.

Trước ông, có nhiều chàng trai kiểu “công tử con nhà” đến làm quen với bà. Nhưng bà đều chê, vì họ giàu nhưng “học dốt”. Chỉ có người “thầy” dạy bà học mỗi tối là khiến cho cô nữ sinh Đồng Khánh ngày ấy xao xuyến, nhất là khi bà thỉnh thoảng bắt gặp ánh mắt lạ lùng ông dành cho bà.

Hồi đó, Đoàn Trọng Truyến đã thầm thương trộm nhớ  cô học trò nhỏ của mình. “Tình trong như đã, mặt ngoài còn e…”, có lần vì muốn bày tỏ tình cảm, ông đã thu hết can đảm…đá chân bà dưới gầm bàn. Lúc bắt gặp đôi má ửng hồng của bà, là lúc ông hiểu rằng tình yêu của mình đã được đáp lại.

Ông bà mến nhau giữa cái thời quan niệm lễ giáo phong kiến còn rất ngặt nghèo, chẳng thể hẹn nhau đi chơi chung, cũng chẳng dám mạnh dạn bày tỏ tình yêu như trai gái bây giờ. Một buổi tối sau giờ học, ông đã kéo đàn violon cho bà nghe bản nhạc “Serenade” bất hủ của thiên tài Schubert.

Khi chơi bản “Serenade” ấy, ông chẳng nói một lời nào, nhưng ánh mắt ông nhìn bà khiến bà hiểu tất cả. Bản nhạc đó là lời tỏ tình chính thức của ông dành cho người con gái trong mộng của mình. Bản nhạc đó đã giúp Đoàn Trọng Truyến hoàn toàn chinh phục cô tiểu thư trường Đồng Khánh.

Sau bài hát đó, ông bà đã cùng nhau hẹn ước sẽ nên duyên vợ chồng. Nhưng lời ước hẹn đó, phải đến 5 năm sau - năm 1943, mới thành hiện thực.

Cũng kể từ đó cho đến những năm tháng sau này, xuyên suốt chặng đường tình yêu suốt 60 năm của ông bà, luôn có dấu ấn của những giai điệu ngọt ngào trong bản bản “serenade” định mệnh.

Sau này, khi đã nên vợ nên chồng, ông bà đã có một tuần trăng mật đẹp như mơ ở Đà Lạt. Những ngày trăng mật ấy, ông và bà thường đi dạo quanh hồ Xuân Hương và ngày nào, ở xứ Đà Lạt thơ mộng đó, bà cũng lặng đi vì xúc động và hạnh phúc khi nghe ông kéo bản “serenade”  đầy kỷ niệm.

Bà rất hay kể cho con cái nghe những kỷ niệm tình yêu của ông bà, mà lần nào kể, ánh mắt bà cũng đắm say, hạnh phúc, nên 7 người con của ông bà, người nào cũng cảm thấy có một mối liên hệ kỳ lạ với bản “serenade”  - bản nhạc mà nhờ đó, cha mẹ họ đã nên vợ nên chồng, cùng sinh con đẻ cái, tạo dựng ra gia đình họ Đoàn sum vầy con cháu như bây giờ.

Gia đình bà Kim Sa, đặc biệt là cụ Nguyễn Văn Kiểm, tuy giàu có nhưng không bao giờ khinh người nghèo. Cụ là người đặc biệt quý trọng người tài. Biết cậu học trò nghèo ham học có tình cảm với cháu gái mình, kỹ sư Nguyễn Văn Kiểm đã hết sức vun vào cho tình yêu của cháu gái.

Sau khi Đoàn Trọng Truyến học xong trường Quốc học Huế, cụ Nguyễn Văn Kiểm đã bỏ tiền nuôi ông đi học ở trường Nông Lâm Đại học đường. Trong suốt 5 năm ông đi học, một mình ở lại xứ Huế thần kinh, bà vẫn một lòng chờ đợi ông.

Những năm tháng học ở Hà Nội, để động viên bà, ông có gửi về Huế  cho bà một bức ảnh của mình, mặt sau ghi dòng chữ bằng tiếng Pháp: “Hòa nghị lực và ái tình, đó là lý tưởng cuộc đời chung hai ta muốn tạo lập”, bức ảnh đó bà giữ bên mình cho đến tận khi về già, thỉnh thoảng lại mang ra khoe với các con các cháu.

Ngày bà về làm dâu nhà ông, mẹ ông là người hạnh phúc nhất. Cụ hạnh phúc vì có được một người con dâu hiền thảo, là tiểu thư nhà giàu, nhưng không nề hà chuyện làm dâu nhà nghèo. Sau này khi kể cho con cái nghe về bà nội, lúc nào bà cũng rưng rưng cảm động:

“Bà nội là người rất tâm lý và hiện đại. Về làm dâu, mẹ chẳng phải chịu áp lực gì. Bà lo mẹ là con nhà giàu, không chịu được khổ, nên chuyện gì cũng không cho con dâu làm”.

Có được một người mẹ chồng tâm lý, nhưng bà vẫn là một nàng dâu đảm đang chuyện nữ công gia chánh, vẫn đối nhân xử thế vẹn tròn. Những món ăn Huế cầu kỳ, những món bánh trái xứ Huế tỉ mẩn, bà đều làm rất khéo, rất ngon mỗi khi nhà có việc. Mẹ chồng bà không bao giờ nói ra, nhưng luôn tự hào về cô con dâu khéo léo, biết trên biết dưới.

Cô tiểu thư xứ Huế trên chặng đường kháng chiến

Khi còn sống, GS NGND - cố Bộ trưởng Đoàn Trọng Truyến từng kể rằng người đã giác ngộ ông, đã đưa ông đến với cách mạng chính là nhà thơ Tố Hữu.

Năm 1945, ông tham gia dành chính quyền ở Huế, và được cử là một trong những Ủy viên Hành chính Huế ngay từ những ngày đầu tiên. Tháng 12/1946, sau ngày Bác Hồ kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến, ông xin phép cha mẹ đưa vợ con đi sơ tán.

Ngày chia tay, ông bà hẹn với cha mẹ hai bên 2 năm sau sẽ quay lại, chẳng ngờ rằng sau đó, vì nhiệm vụ cách mạng của ông, mà cuộc chia ly đó đã trở thành cuộc chia ly dài suốt hai cuộc kháng chiến của dân tộc, dài đến nỗi, 30 năm sau, khi hai miền Nam - Bắc thống nhất, ông mới có cơ hội đưa vợ con về thăm quê hương, vái lạy ông bà, tổ tiên.

Ngày bà theo chồng ra miền Bắc kháng chiến, ngoài người con trai đầu lòng Đoàn Mạnh Giao, bà còn đang thai nghén người con thứ hai. Là con gái nhà giàu, cả đời chưa bao giờ biết đến mưa nắng, vất vả, nhưng khi theo chồng đi kháng chiến, bà đã trải qua đủ khó khăn, vất vả của một người phụ nữ.

Sau khi rời Huế ra Quảng Bình, ông bà tản cư về Nghệ An. Bà chở dạ trên đường tản cư, sinh con trong một ngôi nhà hoang 4 phía xung quanh đều không có vách. Người con đó sinh trên đất Hưng Nguyên, được bà đặt tên là Đoàn Mạnh Hưng.

Năm 1949, sau khi bà sinh người con thứ 3 ở Thanh Hóa, ông được lệnh rời khu 4, lên nhận nhiệm vụ công tác mới ở chiến khu Việt Bắc. Ông đi trước để kịp làm nhiệm vụ, bà ở lại Thanh Hóa nuôi hai con nhỏ và chờ đến 2 năm sau, khi con cái cứng cáp, bà mới bồng bế con lên Việt Bắc đoàn tụ với chồng.

Có lẽ khi theo chồng từ Huế ra Bắc theo lời kêu gọi kháng chiến của Bác,  bà - cô tiểu thư lá ngọc cành vàng xứ Huế - chẳng ngờ được chặng đường mình đi sẽ gian khổ như thế.

Sau này, mỗi lần kể với các con về những ngày một nách ba con đi bộ từ Thanh Hóa lên chiến khu Việt Bắc, bà vẫn ứa nước mắt. Ngày ấy, con trai lớn nhất của bà mới được 6 tuổi, chạy lút cút sau lưng mẹ. Người con trai thứ 2 - mới 4 tuổi, bà thuê một người gánh.

Người con út chưa tròn 2 tuổi, bà địu sau lưng, phía trước buộc một cái ruột tượng đựng gạo cho cả mấy mẹ con. Suốt chặng đường ấy, bà vừa địu đứa con nhỏ, vừa chăm lo hai đứa lớn, vừa lo chạy sao cho kịp đoàn.

Giữa đường đi, có lúc vì kiệt sức, hai mẹ con bà đã rơi xuống sông, nhưng may được người trong đoàn vớt lên kịp. Trên quãng đường lên chiến khu lần ấy, con trai lớn của bà - Đoàn Mạnh Giao không may bị căn bệnh sốt rét ác tính, cổ sưng một cục hạch to bằng quá trứng.

Bà tuyệt vọng ôm con trong lòng, vừa bất lực, vừa đau đớn khi thấy con mình đang mỗi lúc đến gần hơn với thần chết. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ - vị bác sĩ nổi tiếng với công trình nghiên cứu thuốc ký ninh chống sốt rét cũng có mặt trong đoàn.

Lúc bấy giờ Việt Nam chưa có thuốc ký ninh, nhưng may mắn là bác sĩ Đặng Văn Ngữ còn giữ một chút bột thuốc kháng sinh penicilin mang từ Nhật Bản về. Nhưng ngày ấy, trên đường lên chiến khu, chẳng lấy đâu ra nước cất để tiêm.

Bác sĩ Đặng Văn Ngữ khi ấy đang nghiên cứu dang dở đề tài tự chưng cất nước cất, đã có một quyết định mạo hiểm: ông quyết định lấy nước suối chưng thành nước cất để hòa với bột thuốc kháng sinh.

Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, bà Kim Sa chẳng còn lựa chọn nào khác: hoặc là bà để cho bác sĩ Đặng Văn Ngữ thử cứu con trai mình, hoặc bà sẽ mất con mãi mãi. Thế là con trai bà trở thành “tình nguyện viên” đầu tiên và bất đắc dĩ cho công trình nghiên cứu của bác sĩ Đặng Văn Ngữ.

Có lẽ  trời vẫn còn thương gia đình bà. Hành động liều lĩnh của bác sĩ Đặng Văn Ngữ  trong lúc nguy kịch không thể khác ngày ấy đã cứu mạng người con trai cả của bà – người sau này trở thành Bộ trưởng Văn phòng Chính phủ Đoàn Mạnh Giao.

Sau khi được bác sĩ Đặng Văn Ngữ tiêm thuốc, cơn sốt rét ác tính cũng bị xua đi, cục hạch trên cổ con trai bà cũng dần xẹp xuống. Tử thần đã không thể chạm đến được gia đình bà. Sau này mỗi lần nhắc lại, bà vẫn nói với con cháu: nhà chúng ta chịu ơn bác sĩ Đặng Văn Ngữ nhiều lắm.

Bởi nếu không có bác sĩ Đặng Văn Ngữ, có lẽ hạnh phúc của gia đình ông bà bây giờ sẽ không được trọn vẹn; và có lẽ bà cũng không bao giờ có cơ hội nhìn con trai mình lớn lên, trưởng thành, kế bước cha trở thành một chính trị gia có tiếng tăm – một người con luôn khiến bà mãn nguyện và tự hào.

Nguồn: Phunutoday

ve may bay hue
ve may bay hue Tour du lịch Huế trong ngày giá chỉ 250,000 VNĐ Tour Hue di Bach Ma

Hoàng Gia Hotel

Hoàng Gia Hotel tọa lạc ngay trung tâm thành phố Huế, nằm trên đại lộ Hùng Vương

Hoàng Gia Hotel tọa lạc ngay trung tâm thành phố Huế, nằm trên đại lộ Hùng Vương

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế. Tọa lạc ngay trung tâm thành phố với sân vườn thoáng mát

Khách sạn Hoàn Kiếm - Huế. Tọa lạc ngay trung tâm thành phố với sân vườn thoáng mát